Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

Truyện Kiều - Những bình giải

TRUYỆN KIỀU –
Những bình giải

Tác giả: Lê Thanh Long
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014, 224 trang.


Lời giới thiệu

   Rượu ngon phải có bạn hiền cùng uống, thơ hay phải có bạn thơ cùng bình phẩm, trận bóng đá hay phải có đông bạn bè cùng xem. Đọc thơ mà không có bạn thơ cùng trao đổi thì chẳng khác gì ngồi uống rượu một thân, xem bóng đá một mình.
   Sách “Truyện Kiều – Những bình giải” của Lê Thanh Long là Người bạn thơ cùng giao lưu với chúng ta khi đọc Truyện Kiều, một thi phẩm nói mãi cũng không hết, bình giải mãi cũng không cạn. Để không bị lạc vào việc bình giải riêng rẽ từng từ, từng câu thơ như cách chú giải theo thông lệ ở các sách Truyện Kiều, Lê Thanh Long chọn ra 35 chủ đề để bình giải. Đó là những chủ đề nóng, vì thường có những cách bình giải khác nhau, theo những cảm nhận khác nhau. Đọc Truyện Kiều – Những bình giải ta thấy tác giả như trải lòng mình trên từng câu, từng từ trong thơ Kiều, như muốn hòa mình sống với các nhân vật của một xã hội bi thương cách xa chúng ta hàng trăm năm về thời gian, nhưng lại gần gũi về cảnh ngộ, để cảm nhận những ý thơ trong các từ, các câu của Nguyễn Du khi bình giải.
   Là nhà thơ, Lê Thanh Long có những cảm nhận tinh tế, sinh động, song ở góc độ là nhà khoa học, Lê Thanh Long lại có cách bình giải logic, hợp lý, chặt chẽ, có tính hệ thống trước sau của Kiều học , khoa học nghiên cứu Truyện Kiều.
   Có thể ở đâu đó trong các đoạn bình giải có những cái mới, khác lạ chưa dễ được ai đó chấp nhận, do những cảm nhận khác nhau về thơ Kiều, song chính những cái mới, cái khác lạ ấy đã đưa đến cho sách Truyện Kiều – Những bình giải sự hấp dẫn và chú ý.
   Hy vọng sách Truyện Kiều – Những bình giải của Lê Thanh Long sẽ đưa đến cho bạn đọc những giây phút ngạc nhiên và thú vị như tác giả mong muốn.
TS. Phan Tử Phùng
Phó Chủ Tịch

Hội Kiều học Việt Nam

Bạn đọc muốn tìm hiểu xin liên hệ: 
Lê Thanh Long, số điện thoại 01292098772



                                   LÊ THANH LONG                                             


Mấy lời cùng bạn đọc

     Truyện Kiều của Nguyễn Du đã có hàng trăm nhà Kiều học có học vị cao, có tên tuổi nghiên cứu, hiệu đính, bình giải, bình luận… trong hàng trăm năm nay như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Nguyễn Tường Vĩnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Can Mộng, Vân Hạc Lê Văn Hòe, Tản Đà, Phan Ngọc, Nguyễn Thạch Giang,Vũ Ngọc Khánh, Lê Văn Hoàn… và nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi khác đã tạo ra một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu có giá trị. Tuy vậy, có nhiều vấn đề, nhiều câu chữ…  trong Truyện Kiều vẫn còn tranh cãi, còn phải bàn bạc… cho đến tận bây giờ còn chưa ngã ngũ. Thế mới biết Truyện Kiều hay và sâu sắc đến nhường nào!
    Từ ngữ trong Truyện Kiều là những viên ngọc quý lấp lánh nhiều màu sắc. Hiểu thật thấu đáo, thật sâu sắc, thật chính xác chữ nghĩa Truyện Kiều không phải là điều dễ dàng.
    Nói khác với những “cây đa, cây đề” về Kiều học như Đào Duy Anh, Lê Văn Hòe… và hàng trăm nhà Kiều học tên tuổi là một việc làm không dễ dàng gì, nhưng để giải đáp được những câu thơ khó, cần phải có cách tiếp cận mới, hướng giải quyết khác, mới mong  tìm ra điều gì đó còn ẩn giấu.
Tìm hiểu ý nghĩa từng câu, từng chữ trong Truyện Kiều, cho đúng với thâm ý của Nguyễn Du là một việc làm cực kỳ khó khăn, nhưng rất thú vị, để cho độc giả hiểu một cách sâu sắc thấu đáo Truyện Kiều
   Tìm hiểu ý nghĩa từng câu thơ trong Truyện Kiều là phải theo đúng nguyên bản (theo các bản hiện có). Ta không nên thay đổi văn bản khi bình giải, dù đó có thể là hay hơn, dễ hiểu hơn nguyên bản, nhưng đó không phải là thơ của Nguyễn Du. Vì vậy khi bình luận chúng tôi bám sát văn bản hiện hành, tất nhiên là chọn những văn bản chúng tôi cho là hợp lí, vì chưa có một văn bản nào chính thức được thừa nhận và cũng chưa tìm thấy bản gốc ban đầu của cuốn “Đoạn trường tân thanh”.
   GS. Hà Minh Đức cho rằng trong đổi mới hiện nay, cái quý nhất là những tác phẩm có giá trị đỉnh cao. Hiện nay có khuynh hướng làm mới cái cũ, có người đã làm mới Truyện Kiều bằng cách thay chữa câu chữ của Nguyễn Du. Cách làm đó rất đáng phê phán (Phát biểu tại hội thảo khoa học quốc gia”Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế”, 15.5.2014)
   Tác giả chỉ tập trung vào một số câu thơ, mà những bình giải trước đây còn chưa làm thỏa mãn người đọc và những câu thơ chưa được bình giải, hoặc bình giải chưa được cặn kẽ.
Tác giả đặc biệt chú ý đến phong cách dùng từ ngữ
khác lạ của Nguyễn Du so với cách dùng từ ngữ thông thường từ trước đến nay ta vẫn hiểu, xem xét một cách thận trọng, để có thể đưa ra những bình giải hợp lí.
   Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đứng trên những góc độ, những quan điểm chính trị khác nhau phân tích, phê phán Truyện Kiều. Tác giả đứng trên quan điểm, góc độ của Nguyễn Du thời đó, đặt mình vào vị trí của Nguyễn Du và xã hội thời Nguyễn Du để lý  giải sự việc, để nghiên cứu, đánh giá, phê bình, nhận xét, nhằm làm sáng rõ thêm Truyện Kiều, chứ không phê phán hay đứng trên góc độ kiến thức ngày nay để đánh giá.
Những bình giải, nhận xét bám sát vào chính những câu thơ trong Truyện Kiều, để tự bản thân câu thơ của Nguyễn Du nói lên những điều Nguyễn Du muốn nói.
   Tất cả những người say mê nghiên cứu Truyện Kiều, dù ý kiến đúng hay còn chưa đúng, đều rất đáng trân trọng. Người làm thơ không đọc Truyện Kiều, hoặc không nghiên cứu kỹ Truyện Kiều là một thiệt thòi lớn.
Những vần thơ tuyệt diệu làm nên thành công của Truyện Kiều, là thành quả của sự tích lũy kiến thức và kinh nghiệm cả đời cũng như thiên tài trời phú của thi hào Nguyễn Du.
   Truyện Kiều ca ngợi giá trị của cuộc sống con người, ca ngợi hạnh phúc có thực và phải đấu tranh để giành lấy hạnh phúc. Nó là tiếng nói chống lại bất công, áp bức, ca ngợi sự thủy chung, cái đẹp, cái thiện. Nó cũng cho thấy sự nghèo khổ, sự may rủi, sự buồn chán, sự tàn nhẫn, sự lừa lọc, sự đố kỵ… của con người là có thực và luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống.
    Bạn đọc sẽ có những phút giây ngạc nhiên thú vị và không phải mất nhiều thời gian mà vẫn tìm hiểu được Truyện Kiều một cách đầy đủ, thấu đáo và sâu sắc.








Xuân và cuộc đời, Nguyễn Du và Truyện Kiều

LÊ THANH LONG

Xuân và cuộc đời


Liễu buồn
xõa tóc
chờ thu
Lá bàng xanh
thức
để ru cõi tình
Cuối đông
sẽ cựa mình
Kìa
đôi mắt lá
em xinh nở bừng

Hoa
còn tung tẩy chưa dừng
Mà xuân như đã
ngập ngừng sang ngang
Đời
như một ngọn gió  hoang
Xuân thì như sóng
mở ngàn cánh bay

Xuân mang
bóng đổ xuống ngày
Tình
như nước chảy,
sao đầy được sông
Xuân đi
chầm chậm trong lòng
Trời xuân hé mở,
thinh không trong ngần

Tình
như quầng sáng Thiên Thần
Đứng nhìn thì đẹp,
đến gần lại tan.

Sóng tình
trôi
giữa nhân gian
Nhẹ như gió thoảng,
nặng ngàn vạn cân
Xuân ai
rồi cũng một lần
Mặn chua mấy cuộc phong trần
nhớ quên!


LÊ THANH LONG


Nguyễn Du và Truyện Kiều

Ông ngồi bút mực cầm tay
Ngước xem thời thế đổi thay nhường nào
Đường thơ mài sắc hơn dao
Ba đào nhân thế thấm vào thẳm sâu

Phong trần phủ trắng mái đầu
Khúc Kiều nối nhịp cây cầu thiên thu
Trăm năm gió cuốn Tố Như
Bánh xe thế sự cuốn mù mịt bay

Để đời một áng thơ hay
Hai trăm năm lẻ còn say lòng người
Tố Như ơi! Khóc lẽ đời
Khúc đàn “bạc mệnh” ngậm ngùi thế gian

Kiếp người chìm nổi, hợp tan
Câu thơ nhỏ máu, nỗi oan nàng Kiều
Trăm người yêu, chẳng được yêu
Lênh đênh một cánh đò chiều, lênh đênh

Phận người giữa chốn xông xênh
Một đời mắc nợ duyên tình đớn đau
Một thiên tình sử nát nhàu
Thiên thu còn động nỗi sầu nhân gian. 

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Lục bát vắt dòng và lục bát chấm câu

LÊ THANH LONG


Lục bát vắt dòng và lục bát chấm câu

    Thơ lục bát cũng như thơ Đường luật, thơ bảy chữ, tám chữ … thường đọc ngừng lại ở cuối câu. Gần đây người ta hay dùng cụm từ “lục bát vắt dòng” để chỉ việc người ta “cắt’ lục bát thành từng đoạn và đọc “vắt” từ dòng nọ sang dòng kia. Nhưng thực chất của công việc này là “ngắt nhịp lục bát”. Hay nói cách khác là biểu diễn nhịp điệu lục bát trên mặt giấy. Việc ngắt nhịp (xuống dòng) phải đúng với nhịp điệu lục bát, chứ không ngắt, xuống dòng tùy ý được. Ngoài ra, việc ngắt nhịp này, đôi khi còn để nhấn mạnh một từ quan trọng nào đó.
      Cụm từ “lục bát vắt dòng” này là do chủ quan của các nhà thơ tự đặt ra, giống như thơ tự do vắt dòng. Tức là đọc vắt từ dòng nọ sang dòng kia, chứ không dừng lại ở cuối câu. Mục đích là để gây ấn tượng thị giác, chứ không phải gây ấn tượng thính giác như đọc thơ và ngâm thơ.
      Từ trước đến nay, khi đọc các loại thơ Đường luật, thơ bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát… người ta thường dừng lại ở cuối câu. Nhưng gần đây xuất hiện một loại lục bát chấm câu. Mà khi đọc người ta đọc và nghỉ ở dấu chấm câu. Tạm gọi là “lục bát chấm câu” và đọc “vắt dòng”. Nói là “lục bát chấm câu” và đọc “vắt dòng”, vì bắt buộc phải “đọc vắt dòng” do ngữ pháp chấm câu quy định. Tất nhiên các câu còn lại vẫn phải đọc theo nhịp điệu lục bát quy định.
      Thời trước, người ta chấm phẩy câu thơ theo đúng ngữ pháp tiếng Việt và viết hoa ở đầu câu. Sau đó là thời kỳ trong câu thơ không chấm, không phẩy nữa, nhưng vẫn viết hoa ở đầu câu. Sau này trong câu thơ người ta bỏ luôn không chấm, không phẩy và không viết hoa ở đầu câu, nhưng vẫn viết mỗi câu thơ một dòng. Nghĩa là bỏ luôn ngữ pháp tiếng Việt. Mặc cho người đọc muốn hiểu thế nào thì hiểu. Ngay cả văn xuôi người ta cũng bỏ luôn chấm, phẩy viết một mạch mấy trang liền, không chấm phẩy. Văn phạm tiếng Việt đã khó lại càng thêm khó cho người đọc! Không biết đó là “sáng tạo”, “cải tiến” hay là “cải lùi” không biết nữa?! Viết như thế, thì không biết các thày giáo dạy tiếng Việt còn gì để mà dạy nữa?!
      Gần đây, để đổi mới, các nhà thơ lại sử dụng rất nhiều dấu chấm câu. Việc làm này đem đến những mới mẻ, gây ấn tượng thị giác. Nhưng mục đích xa hơn, là làm cho câu thơ có thêm nhiều ý nghĩa. Nội dung câu thơ mở rộng hơn. Người đọc có thể hiểu theo nhiều cách. Một từ, hai từ cũng có thể hình thành một câu trọn vẹn. Chủ ngữ ẩn đi, và một số thành phần khác cũng ẩn đi. Vì vậy người đọc có thể đọc, hiểu theo nhiều cách khác nhau.
      Ví dụ, ta đọc bài thơ sau đây của Lê Huy Quang:
Về đi thôi gió
Về đi thôi. Gió. Đừng chờ,
Chẳng còn chi nữa. Mắt mờ tìm nhau.
Về đi. Thôi gió. Bay mau,
Chẳng còn em. Vẫn một màu. Phố xưa.
Về đi thôi. Gió đừng mơ,
Xa bàn tay ấy. Bất ngờ nỗi đau.
Về đi. Thôi gió. Chớ sầu,
Ngày mai xa lắm. Còn đâu sợi buồn.
Về đi thôi gió. Mưa tuôn,
Tóc nhòa bóng nước cội nguồn là em.
Về đi. Thôi gió. Là đêm,
Hương hoa sữa. Những êm đềm thời gian.
Về đi thôi gió nồng nàn,
Heo may gợn. Thoáng đầy tràn trong nhau.
      Tôi không bình giải bài thơ này, mà chỉ đưa ra một số cách hiểu khác nhau, do chấm câu tạo ra.
      Hai câu thơ đầu:
Về đi thôi. Gió. Đừng chờ,
Chẳng còn chi nữa. Mắt mờ tìm nhau.
Ai dục giã ai về? Gió là ai? Ở đây, gió có thể là anh con trai. Người con gái dục anh con trai trở về đi. Đừng chờ đợi nữa. Đừng tìm nhau làm gì nữa. Gió là anh con trai. Hay chính người con trai dục giã mình trở về. Đừng chờ đợi làm gì nữa. Vì người yêu không còn ở đấy nữa. Tình yêu không còn nữa.
      Sang hai câu thơ tiếp theo, đã giải thích rõ cho điều này:
Về đi. Thôi gió. Bay mau,
Chẳng còn em. Vẫn một màu. Phố xưa.
Anh con trai tự nói với mình “Về đi. Thôi gió”, về nhanh đi, về ngay đi, cái phố xưa vẫn còn đấy, cảnh cũ vẫn thế, nhưng người mình muốn tìm là em thì không còn ở đấy nữa rồi. Tìm nhau mãi không thấy: “Mắt mờ tìm nhau”.
      Bạn đọc tự tìm hiểu thêm những câu thơ tiếp theo.
      Nhiều khi ta có cảm tưởng như tác giả chấm câu lung tung. Nhưng thực ra người viết có dụng ý nhất định trong việc chấm câu, nhằm hướng độc giả tới một ý nghĩa nào đó. Và cách chấm câu sẽ bắt độc giả phải suy nghĩ, nghiền ngẫm, tìm ra ý nghĩa đích thực của câu thơ.
      “Lục bát vắt dòng” ở đây được quy định bởi chấm câu, chứ không phải “lục bát vắt dòng” theo nhịp điệu câu thơ lục bát. Lấy ví dụ câu:
Về đi thôi. Gió. Đừng chờ,
Chẳng còn chi nữa. Mắt mờ tìm nhau.
Ở đây ta chú ý đến dấu phẩy sau chữ chờ ở câu lục. Tác giả có dụng ý dùng dấu phẩy ở đây, vì tác giả vẫn giữ cách viết hoa ở đầu mỗi câu, dấu phẩy ở đây lưu ý người đọc, nếu đọc “vắt dòng theo dấu chấm câu”, thì phải đọc là:
Về đi thôi.
Gió.
Đừng chờ, chẳng còn chi nữa.
Mắt mờ tìm nhau.
Hay như câu:
Về đi. Thôi gió. Là đêm,
Hương hoa sữa. Những êm đềm thời gian.
Ta phải đọc “vắt dòng” như sau:
Về đi.
Thôi gió.
Là đêm, hương hoa sữa.
Những êm đềm thời gian.
      Cách viết và đọc “vắt dòng” theo chấm câu gây được ấn tượng thị giác. Và cũng là một cách đổi mới cách viết thơ lục bát.
      Ta lấy một ví dụ khác, bài thơ Mình về! của L.T.L.
Mình về!
Về đi em nhé! Ơi em
trái tim bốc lửa. Vừa đem nhúng bùn.
Về đi em nhé! Đừng buồn!
Băng tan giũ sạch. Mưa nguồn lại xanh.

Ngày mai em nhé! Cùng anh
chắt chiu một chút cỏ lành. Còn thơm.
Ngày mai sóng vỗ. Nguồn cơn.
Sông còn có lúc. Bồn chồn. Chia ly.

Ngày mai ở lại. Đừng đi!
Nắng lên tươi mới. Bờ mi em cười.
Ngày mai em nhé! Cuộc đời
sẽ xanh đến tận chân người mình yêu!

Ngày mai. Một chút nuông chiều
chẳng còn dấu vết. Cô Kiều tiễn đưa.
Mình về! Với nắng với mưa.
Mình về ủ lại men xưa. Chúng mình…
     Bài thơ nói về cô gái "bán hoa" và anh thanh niên người yêu của cô. Anh thanh niên có một tình yêu tha thiết, có tấm lòng cao thượng, mong muốn cô rời bỏ nơi tối về với ánh sáng cuộc đời trong lành. Bài thơ mang đậm chất nhân văn cao cả của con người. Bài thơ này cũng như bài thơ trên sử dụng dấu chấm câu để mở rộng ý nghĩa bài thơ. Và dùng dấu chấm câu để quy định đọc “vắt dòng”. Nhưng khác với bài thơ trên, bài thơ này tác giả không viết hoa ở đầu câu, mà viết hoa sau dấu chấm câu.
      Ví dụ câu:
Về đi em nhé! Ơi em
trái tim bốc lửa. Vừa đem nhúng bùn.
Sẽ được đọc và trình bày “vắt dòng” như sau:
Về đi em nhé!
Ơi em trái tim bốc lửa.
Vừa đem nhúng bùn.
Hay như câu:
Ngày mai em nhé! Cuộc đời
sẽ xanh đến tận chân người mình yêu.
Sẽ được đọc và viết “vắt dòng” như sau:
Ngày mai em nhé!
Cuộc đời sẽ xanh đến tận chân người mình yêu.
Việc chấm câu như vậy sẽ tạo ra một câu thơ dài đến mười chữ.
      Trong câu:
Ngày mai em nhé! Cùng anh
chắt chiu một chút cỏ lành. Còn thơm.
Sẽ được đọc và viết “vắt dòng” như sau:
Ngày mai em nhé!
Cùng anh chắt chiu một chút cỏ lành.
Còn thơm.
Ngày mai, ngày chúng ta về với nhau. Chúng ta sẽ chắt chiu, giữ lấy những nét “cỏ lành” của quê hương thân yêu, giữ lấy những nếp sống trong sạch, trong sáng, mà xưa nay vẫn được mọi người nâng niu tôn trọng. Hai từ “Còn thơm” tách thành một câu sẽ mang nhiều ý nghĩa khác nhau, để cho người đọc tự suy ngẫm, chiêm nghiệm, tìm ra. Cái gì “Còn thơm”? Cuộc đời còn thơm, còn đẹp lắm. Mặc dù trái tim em “vừa đem nhúng bùn” do một phút nông nổi, nhưng em không mất đi tất cả, mà em vẫn còn những cái quý giá khác.
Nếu viết:
Ngày mai em nhé!
Cùng anh chắt chiu một chút cỏ lành còn thơm.
Thì ý nghĩa của câu thơ bị giới hạn trong phạm vi hẹp hơn. Và không còn chỗ cho độc giả suy nghĩ, liên tưởng rộng ra. Đó là mục đích và cũng là ưu việt của việc chấm câu có dụng ý, mà tác giả muốn hướng tới.
      Chưa có nhiều người viết và trình bày thơ lục bát theo cách chấm câu như trên đã trình bày. Bước đầu tìm hiểu và nêu ra để người yêu thơ tham khảo. Điều này cho thấy vẫn còn chỗ để ta làm mới lục bát, nếu chúng ta yêu mến và hết lòng với lục bát.


Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Người về






LÊ THANH LONG

Người về

(Kính tiễn Đại Tướng
                         Võ Nguyên Giáp)
Tiễn đưa
Đại Tướng
người người
tiếc thương
khắp cõi
ngang trời lệ sa
Người về
Đảo Yến quê nhà
phất phơ lau trắng
cỏ hoa ngời ngời
Tiếng thơm
để lại đời đời
Gió mưa
vẫn đứng
mỉm cười
thiên thu!
Trong ngần
yên ả sóng ru
Mai sau
còn có
người như…
bây giờ?!
                     (Hà Nội 13.10.2013)


Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Vòng luân hồi

Vòng luân hồi

Em ơi!
         Nước mắt ướt đầm
Nỗi đau tách vỏ,
                    nụ mầm tương lai
Nắng tàn
             mà hạt không phai
Tàn đông là để

                     xuân mai lại hồng.

Bụi thời gian


Bụi thời gian


Thời gian phủ lớp bụi mờ
Chứng nhân lịch sử cõi bờ nước non
Kìa nghe rực rỡ vàng son
Kìa nghe trống dậy lối mòn Chi Lăng.

Kìa nghe sóng nước Bạch Đằng
Thuyền phơi cọc gỗ, dẹp bằng can qua
Thăng Long một cõi sơn hà
Mấy tầng bụi phủ, mấy tòa thành tan.

Sông Thạch Hãn máu đỏ loang
Còn nghe máu chảy hoang tàn Khâm Thiên
Nước non sông núi nối liền
Trang vàng lịch sử vẫn triền miên trôi

Trải bao thế cuộc lở bồi
Máu hòa vào đất bao người dựng nên
Mưa trút xuống, gió cuốn lên
Bóng thời gian phủ bao phen mất - còn

Nắng mưa thế cuộc bào mòn
Làng quê mấy cuộc, vuông tròn mấy phen
Trống đồng ngàn tuổi đã hoen
Xương anh hùng cũng cỏ ken bụi dầy.

Bụi thời gian đã phủ đầy
Vẫn còn vang vọng những ngày vàng son.

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Giấc mơ gặp người thiên cổ

Giấc mơ gặp người thiên cổ


    Một đêm mông lung. Không ngày không tháng. Không đầu không cuối. Không gian và thời gian trôi tuột đi, như trượt trên vũ trụ mơ màng, huyền ảo. Ánh sáng và bóng tối xen nhau. Vô định. Nghi đang đi, đang trôi, hay đang bay trên con sông đời. Anh cũng không biết nữa. Dòng sông đời lấp loáng đủ màu sắc: đen, trắng, vàng, xanh, đỏ, lục, lam, chàm, tím… được chiếu sáng từ một ngôi sao trong vũ trụ xa xăm. Anh đang lướt đi như bay trên con sông đời ấy.. Anh đang ngược dòng trở về với quá khứ. Anh bay trên con sông đời. Dòng sông mênh mông như biển, mỗi lúc một hẹp lại. Khoảng cách được tính bằng năm. Anh đang bay ngược thời gian, trở về quá khứ. Có lẽ, anh đã bay ngược về quá khứ được gần ba trăm năm. Anh đang bay về quá khứ tìm gặp một người thiên cổ, mong làm rõ thắc mắc, những nghi vấn cho anh và cho bao người yêu mến văn chương.
Đột nhiên trước mặt anh hiện ra một dòng sông bạc lấp lánh với những hạt ngọc lung linh nhấp nhô trên sóng. Dòng sông có nhiều nhánh rẽ lên thượng nguồn. Nghi không biết mình phải đi theo nhánh nào? Anh nhắm mắt cầu khấn, xin các bậc vĩ nhân thiên cổ phù hộ cho anh, đến đúng nơi cần đến. Sau đó, anh rẽ liều vào một nhánh Sông Văn. Dòng sông nhỏ dẫn đến một cái hồ. Mặt hồ xanh như ngọc, ánh sáng bạc lấp lóa trên mặt hồ, nhấp nháy như những ngôi sao.
Một con thuyền nhỏ, màu trắng như lụa, đang lướt nhẹ trên hồ. Một giọng ngâm thơ êm ái, dịu dàng như từ xa xôi vọng lại. Rồi dần dần con thuyền lụa hiện ra rõ hơn. Trên thuyền một phụ nữ đang ngồi ngâm thơ, giọng ngâm cổ, trong và nhẹ nhàng, ngày càng rõ. Người phụ nữ trạc hai mươi tuổi, nét mặt thanh tú, đẹp một cách dân giã. Mái tóc dài buông xõa xuống đôi vai trắng ngần. đôi môi đỏ, cái miệng hiền hậu, duyên dáng. Nghi bay lướt đến. Anh nhẹ nhàng hạ xuống sàn thuyền. Hai tay chắp cung kính:
- Thưa bà. Đây là hồ… Nghi kéo dài giọng như muốn hỏi.
    - Hồ Văn.
    - Hồ Văn? Cái tên nghe nên thơ quá, thưa bà! Bà ở đây đã lâu chưa ạ?
    - Ta ở đây đã được trên ba trăm năm rồi.
    - Ngươi từ đâu tới?
- Dạ thưa bà, tiểu đệ từ Hà Nội tới.
- Hà Nội là ở đâu nhỉ?
    - Dạ thưa bà, Trước đây gọi là Thăng Long ạ.
    - À. Ra vậy. Ta nhớ ra rồi. Thăng Long là quê ta, ta ở Hồ Tây.
    - Thưa bà, bà là ai ạ?
- Ta là ai ư? Bà nhìn Nghi mỉm cười hóm hỉnh, phảng phất nét đẹp quyến rũ:
- “Ta ở Tây Hồ bán chiếu gon”.
    - Bà là Nguyễn Thị Lộ?
Chiếc thuyền lụa lập tức tan vào không gian, không để lại dấu tích gì. Nghi cất bổng mình, bay trên mặt Hồ Văn, nhắm ngôi nhà ở sườn núi phía đông bay tới. Mới bay được một lát. Nghi nhìn thấy một ông già râu tóc bạc phơ, đang ngồi, thả cần trúc còn nguyên cả lá ở đầu cành, xuống mặt hồ. Nghi dừng lại, chắp tay cung kính hỏi:
- Thưa tiền bối. Tiền bối đang làm gì đấy ạ?
    Ông già vuốt bộ râu dài trắng như cước, rồi khe khẽ ngâm:
“Ta ngồi câu chữ hồ Văn
Văn hồ còn lặng, câu trăng đáy hồ”
    - Tiền bối nói về thời nay hay là thời xưa ạ?
    - Thời nào, thì ngươi phải luận ra chứ!
Rồi ông già, trầm ngâm, hồi tưởng:
- Ngày xưa, Hồ Văn còn rất nhỏ. Bây giờ hồ rộng ra nhiều, mênh mông và đầy lên, có cảm tưởng như sắp tràn. Ta đã ngồi câu ở đây hơn trăm năm, nhưng không câu được một chữ vàng óng ánh nào cả.
    - Vì chữ vàng không có, hay vì chữ không cắn câu, thưa tiền bối?
    - Vì chữ văn không nổi lên, mà đều chìm nghỉm hoặc lơ lửng ở lưng chừng hồ.
    - Thưa tiền bối, tiền bối có biết Thần Siêu, Thánh Quát không ạ?
- Ta có biết. Và biết rất rõ là đằng khác.
Rồi ông trầm ngâm kể. Thánh Quát cuộc đời chìm nổi. Không có học vị, chẳng có danh vị. Nhưng thơ thì hay vô cùng, nên người đời mới phong là “thánh”.
    Nghi lại lễ phép, chắp tay hỏi:
    - Thưa tiền bối, tiền bối có biết thần Siêu không?
    - Thần Siêu ư? Người biết gì về ông ta?
    - Thần Siêu đã vận động người Hà Nội trùng tu đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, xây thêm Đài Nghiên, Tháp Bút, đắp núi Độc Tôn.
    - Thực sự, là ngươi muốn tìm ai? Ta biết chắc, người ngươi tìm không phải là Thần Siêu, Thánh Quát.
    - Thưa tiền bối, ngài đúng là thần, Thần Siêu rồi.
Nghi chưa nói hết câu, ông đã tan biến vào khoảng không gian huyền bí, không để lại dấu vết gì, kể cả cái cần trúc câu chữ.
Nghi lại vỗ đôi cánh tưởng tượng của mình, bay vút đi, đến cái nơi cần đến.
Xa xa, cạnh một cây ngô đồng cổ thụ, cao đến ba mét, hoa đỏ rực rỡ, có hai ông già râu tóc bạc phơ đang ngồi đánh cờ, quân cờ làm bằng ngà voi đã lên nước bóng của những ngón tay chạm vào. Nghi vội nhẹ nhàng hạ mình xuống, nấp sau cây ngô đồng.
Ông râu ngắn:
- Thi huynh có biết tại sao Đặng Trần Côn đoản thọ không?
- Vì bao nhiêu tinh túy trong người ông ấy rút ra hết, đổ vào Chinh phụ ngâm khúc cả rồi. Ta đã dự đoán trước là ông ấy sẽ đoản thọ.
- Thi huynh nói chí phải. Bao nhiêu nguyên khí ông ấy trút ra hết, liệu còn cái gì để tồn tại nữa. Hay là người ta đã vươn tới cái đỉnh cao nhất rồi, nên người ta không còn động lực gì để viết và sống nữa chăng?
Ông râu dài gật gù:
- Có thể lắm!
Ông râu ngắn, dúi một nước tốt qua sông, rồi cười khà khà:
    - Này anh bạn trẻ, ra khỏi cây ngô đồng đi. Ngươi muốn tìm ai? Sao lại đứng nghe lỏm chuyện của chúng ta?
Ông già râu dài cười hóm hỉnh:
- Có phải ngươi muốn tìm gặp Đặng Trần Côn     phải không?
- Hai vị tiền bối đúng là thần thánh, không xưng người cũng biết.
- Ngươi đi đến chỗ cây sung già ở mạn đông ấy.
Nói xong hai ông già râu tóc bạc phơ biến mất, cùng với bàn cờ.
Nghi cất mình bay lên hướng đông. Nơi đó có những dòng Suối Văn. Những dòng Suối Văn óng ánh, lấp lánh như thủy ngân. Nghi rẽ liều vào một dòng Suối Văn bên phải. dòng Suối Văn chảy men theo một ngọn núi xanh như ngọc bích. Nghi nhìn thấy bên trái sườn núi có một người trai trẻ, khoảng 25 – 26 tuổi, tóc để dài, đen nhánh. Khuôn mặt khôi ngô, tuấn tú, ánh mắt trong sáng. Người thanh niên đang múc nước ở Suối Văn, tưới lên một ngọn núi nhỏ, bên cạnh là chiếc bàn đá, đã lên nước bóng. Nghi tiến đến trước mặt người thanh niên cung kính:
- Thưa tiền bối, tiền bối đang làm gì đấy ạ?
- À, ta đang tưới lên Núi Văn.
- Tưới lên Núi Văn? Thưa tiền bối, tưới lên núi thì có ích lợi gì ạ?
- Nếu không thường xuyên tưới nước, núi cũng sẽ khô héo. Cây thơ không nẩy chồi, ra hoa, kết trái được. Núi Văn cần những dòng nước văn chương luôn luôn tươi mới.
- Thưa tiền bối, tiểu đệ hỏi khí không phải, có phải người là… Người đã viết: “Thiên địa phong trần. Hồng nhan đa truân” không ạ?
- Sao ngươi biết?
- Tiểu đệ đoán vậy, vì tiền bối còn rất trẻ. Hình như người viết Chinh phụ ngâm khúc lúc người mới ngoài hai mươi tuổi, phải không ạ?
- Đúng vậy đó.
- Thưa tiền bối Đặng Trần Côn, tiểu đệ hơi tò mò một chút, khi viết xong Chinh phụ ngâm khúc, người đưa cho ai đọc trước tiên ạ?
- Đoàn Thị Điểm. Bà ấy hơn ta khoảng chục tuổi. Thời đó, ta cũng không có nhiều bạn văn chương. Lúc đó, bà ấy vừa lấy ông Nguyễn Kiều được khoảng một tháng, thì ông Nguyễn Kiều phải đi sứ sang Trung Quốc. Ta nghĩ, bà ấy đang buồn, nên ta đưa bà ấy đọc để giải khuây.
- Sau khi bà Đoàn Thị Điểm dịch Nôm Chinh phụ ngâm xong, có đưa cho tiền bối xem không?
- Tất nhiên là có rồi. Ta rất ngạc nhiên về bản dịch của bà Điểm. Văn chương không chê vào đâu được, có nhiều chỗ viết còn hay hơn cả ta. Chất phụ nữ thấm đẫm ở trong bản dịch. Có lẽ nỗi lòng của bà Điểm xa chồng, chẳng khác gì người chinh phụ chờ chồng ở chiến trận trở về, nên bản dịch của bà mới hay đến như thế!
- Bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm, chuyển cho tiền bối có đề tên không?
- Không. Gửi cho nhau, là biết của ai rồi, việc gì phải đề tên. Anh bạn trẻ hỏi hơi nhiều rồi đấy!
Nói đến đây, Đặng Trần Côn tan biến đi như một làn hơi, không để lại dấu vết gì.
Nghi đứng lặng, bâng khuâng ngắm ngọn Núi Văn. Rồi chợt nghĩ đến công việc của mình, anh cất mình, rẽ sang dòng Suối Văn bên cạnh. Dòng suối êm đềm, róc rách những mạch nguồn văn chương thiên cổ. Không lâu sau, Nghi nhìn thấy một ngôi nhà xinh xắn, xung quanh là những vườn rau xanh tốt, trước mặt là một hồ nước nhỏ. Một phụ nữ khoảng ngoài 40 tuổi, nhưng trông vẫn còn trẻ trung, xinh đẹp, ăn mặc giản dị với áo vải màu xanh, đoan trang hiền dịu. Bà đang tưới cho một cây gốc sần sùi như núi đá, bên trên tỏa ra những cành lá sum suê, mỗi cành có một loại hoa mầu sắc khác nhau, có hoa màu đỏ như hoa gạo, có hoa màu tím như hoa sim, mấy bông hoa đào xen lẫn mấy bông hoa mai vàng rực rỡ…
Nghi đến gần chắp tay cung kính:
- Thưa tiền bối, tiền bối đang làm gì đấy ạ?
- Ta đang tưới cho Cây Văn.
- Tưới cho Cây Văn? Đây là Cây Văn ạ? Cây Văn của tiền bối quả là đa sắc, đa hình, nở hoa rực rỡ. Thưa tiền bối, tiền bối có thể cho tiểu đệ mấy hạt, mấy cây về trồng được không ạ?
- Ngươi quả là khôn ngoan, nhưng Cây Văn không xin giống được, nó sẽ không nẩy mầm, mà nếu có nẩy mầm, thì cũng không ra hoa được. Phải tự mình lai giống, tạo ra một Cây Văn riêng của mình.
- Tiểu đệ hiểu ý của tiền bối. Thưa tiền bối, tiền bối đã từng đọc Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn chứ ạ?
- Ta còn lạ gì Chinh phụ ngâm khúc, chính Đặng Trần Côn đã tặng cho ta, có lẽ ta là người đầu tiên được ông ấy gửi tặng.
Nghi mừng như mở cờ trong bụng. Nghi đã gặp được người Nghi cần gặp. Nhưng phải hỏi như thế nào đây? Khó quá? Nhưng phải liều thôi!
- Thưa tiền bối, tiền bối dịch Nôm Chinh phụ ngâm trong thời gian bao lâu ạ?
- Ta dịch trong hai ba tháng gì đó. Ta cũng không nhớ rõ nữa. Đã 260 năm rồi còn gì!
- Thưa tiền bối, tiền bối dịch câu: “Thiên địa phong trần / Hồng nhan đa truân”, rất hay. Nhưng sao tiền bối không dùng chữ “Hồng nhan”, mà lại dùng chữ “Khách má hồng”? Rồi Nghi cất cao giọng ngâm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Đoàn Thị Điểm nhìn Nghi mỉm cười:
- Có phải đây là mục đích ngươi đã vượt gần ba trăm năm trở về quá khứ, chỉ để hỏi mấy điều này phải không?
    Nghi toát mồ hôi hột, ấp úng không biết trả lời ra sao. May quá, bà vui vẻ nói tiếp:
- Thời đó, đàn ông hay gọi phụ nữ chúng ta là “Hồng nhan”. Ta là phụ nữ, ta không thích chữ đó. Cụm từ “Khách má hồng” mới đặc trưng cho giới phụ nữ chúng ta.
- Thưa tiền bối, tiểu đệ có một câu hỏi nữa, xin tiền bối vui lòng chỉ giùm.
- Ta cho phép người hỏi.
- Hai câu dịch Nôm của tiền bối:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô
Rất hay, hậu thế chúng tôi rất khâm phục. Nhưng lại nẩy ra thắc mắc, vì trong nguyên tác của Đặng Trần Côn:
“Sương phủ tàn hề dương liễu
Vũ cứ tổn hề ngô đồng”
Không có từ “búa bổ” và từ “cưa xẻ”.
    - Hai từ đó là phóng tác của ta, đúng là không có trong nguyên tác. Ta dịch, chú ý đến văn chương và cảm xúc, ta chú ý chuyển tải cho được cái hay của nguyên tác, chứ không phụ thuộc vào từng câu, từng  chữ.
    - Thưa tiền bối, thời tiền bối, khi tặng bản mình dịch cho thi huynh, thi hữu, có đề tên người tặng không?
- Không.
- Tiểu đệ đọc được, có bản chép đề chữ “Nữ”, có nghĩa gì?
- Chẳng có nghĩa gì. Có thể, đó chỉ là tên người chép.
- Xin vạn vạn lần cảm ơn tiền bối. Nếu có điều gì sơ xuất, xin tiền bối thứ lỗi.
Nói xong, Nghi ngước lên, thì không thấy gì trước mắt nữa. Trước mặt Nghi là bầu tời sáng lóa, chẳng để lại dấu vết gì. Nghi bồi hồi, luyến tiếc. Và đột nhiên choàng tỉnh. Hóa ra đó là một giấc Nam Kha.

Vào một chiều cuối thu, trong một quán cà phê, chờ đợi những giọt cà phê đặc sánh, tí tách rơi, Nghi đã kể lại cho tác giả về giấc mơ kì lạ của mình. Tác giả chỉ là người ghi lại, mong mua vui cho độc giả, trong những thời gian rảnh rỗi.