Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 2, 2018

Thơ ca theo dòng chảy thời gian


Thơ ca theo dòng chảy thời gian
   Thơ ca từ sâu thẳm nội tâm bước ra bằng những ngôn từ được sắp xếp một cách có chủ ý, do thăng hoa cảm xúc, rồi đi ra với đời, sống một cuộc sống riêng. Đứa con tinh thần đó có thể được chấp nhận hay bị đời lãng quên, còn phụ thuộc vào tài năng, sự chân thật, sự khéo léo, tinh tế trong kết cấu câu chuyện… của người sinh ra nó. Nói gì thì nói, thơ hay điều quan trọng bậc nhất phải là cái hay của ngôn từ, lời thơ tạo nên và ý nghĩa của nó mang lại, nhất là với thơ lục bát. Cái hay của thơ lục bát đi liền với ngôn từ, cũng như cái cách mà tác giả sử dụng ngôn từ, làm nổi bật nội dung mà mình muốn nói. Ngôn từ càng súc tích, càng lạ, càng chân thật thì càng hay. Thơ hay rất hiếm cho bất cứ ai làm thơ. Một bài thơ hay là bài thơ cuốn hút, gây được ấn tượng cho người đọc. Cái hay của một bài thơ còn do cái tình của tác giả truyền sang cho người đọc. Nếu tác giả không có tình cảm, không  chân thật, không rung động trong khi viết… thì không có cái gì để truyền cho người đọc cả, và cũng không có cái gì để người đọc phải suy ngẫm thêm nữa. Thơ chỉ nên nói ra một phần để người đọc còn có cái mà ngẫm nghĩ, thưởng thức, nhấm nhá, nhâm nhi từng câu chữ.
   Ngôn từ thì không có nhiều, nhưng khi sắp xếp nó lại theo cách này, hay cách khác lại trở nên mênh mông, vô cùng, vô tận… Làm thơ là nghệ thuật chơi chữ, nghệ thuật sắp xếp ngôn từ theo tư duy và tình cảm của tác giả một cách sống động. Thơ là cách ta vẽ ra một bức tranh bằng chữ, ta soạn ra một bản nhạc bằng lời, ta nói ra cái trìu tượng bằng ngôn từ cụ thể, và đặc biệt cũng có thể nói ra cái không thể nói ra bằng lời…
   Mỗi người có cách làm thơ của riêng mình, có cái riêng đặc thù của riêng mình, nó tựa như một bức tranh vẽ nên hình hài những tư duy, nội tâm, tình cảm, tính cách, cuộc sống, suy nghĩ của tác giả… qua thơ của ai đó ta có thể thấy được, hình dung được người đó là người như thế nào.
   Theo dòng chảy thời gian mọi sự vật trong thế giới xung quanh ta đều biến đổi không ngừng, kể cả vũ trụ rộng lớn mênh mông vô cùng vô tận. Thơ ca không nằm ngoài quy luật đó, nó cũng phải biến đổi theo quy luật của tự nhiên, theo sự biến đổi của tình cảm, suy nghĩ, tư duy, cách sống, quan điểm và cuộc sống vật chất, công nghệ, tiến bộ khoa học trong xã hội của con người hiện đại.
   Thơ ca biến đổi theo thời cuộc của dòng chảy thời gian có thể xẩy xa theo sự định hướng của con người, theo sự tự phát của mỗi cá nhân, theo trào lưu của cuộc sống… Nó biến đổi một cách đa dạng, xu hướng nào tồn tại được không phụ thuộc vào sự áp đặt của một ai đó, mà phụ thuộc vào sự hưởng ứng, sở thích, đồng cảm… của con người trong xã hội thời đó.
   Ngày nay có mấy xu hướng thơ đang tồn tại:
+ Xu hướng làm thơ chỉ chú ý đến ý nghĩa của bài thơ mang lại, bỏ qua tất cả mọi tiêu chí thơ trước đây; bỏ qua luật thơ, vần điệu, nhạc điệu, hình ảnh, câu chữ… Loại thơ này chọn người làm và cũng chọn người đọc, quần chúng yêu thơ có thích hay không thích thì còn chưa biết, nhưng người đọc sau khi hiểu ra ý nghĩa của bài thơ thì cũng cảm thấy thích thú, nhưng không để lại ấn tượng gì nhiều.
+ Loại thơ làm theo cảm hứng, cố ý dùng từ ngữ, câu chữ lạ, không tuân theo quy luật ngôn ngữ thông thường, không chủ ý xây dựng cốt truyện, không theo một chủ đề định sẵn, thường lan man, chuyển ý đột ngột, người đọc khó nắm bắt được chủ ý của tác giả. Loại thơ này đang là trào lưu được nhiều người bắt chước nhau.
+ Loại thơ được gọi là hậu hiện đại, thuộc lại thơ tự do, được một số nhà thơ có tiếng làm. Loại thơ này thường rất khó hiểu, cả về cách hiểu và cách làm, thường đề cao tính tự do tư tưởng. Loại thơ này người bình thường có cảm giác khó có thể hiểu được cái hay của nó, các nhà phân tích, bình luận cũng chỉ bình luận chung chung, chưa nói thật rõ về nó để người đọc hiểu thêm. Mỗi một loại hình thơ đều có cách thức làm và cách để hiểu nó.
+ Các loại thơ truyền thống được cải biến cho hay hơn, chủ yếu là làm mới câu chữ, cách thức kết cấu, làm mới, làm lạ, có nhiều tứ thơ lạ, biến đổi không ngừng. Loại thơ này nói chung bạn đọc hiểu được, gây được ấn tượng và sự thích thú cho người đọc.
   Không biết thơ hiện đại ngày nay có phải đang đi ngược lại với xu hướng thời đại - thời đại 4.0 - thời đại con người có rất ít thời gian và có nhiều việc phải làm hơn là ngồi ngẫm nghĩ về một bài thơ nào đó, mà bản thân mình không thể hiểu được.
   Ngày nay có rất nhiều loại hình thơ để các tác giả lựa chọn, kể cả việc sáng tạo ra các loại hình thơ mới, cái tiến các loại hình thơ đã có cho hay hơn, lạ hơn… Lựa chọn loại hình thơ nào để làm và để đọc là quyền của mỗi chúng ta. Loại hình thơ nào được nhiều người đọc và tồn tại lâu dài thì tương lai mới trả lời được. Ngay cả tương lai của thơ ca ở nước ta thế nào, vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ!
   Sự phát triển và nâng cao các loại hình nghệ thuật (trong đó có thơ ca) phải mang đậm sắc thái, hồn cốt, bản chất… của dân tộc mình. Đó là cái lẽ để tồn tại, phát triển lâu dài và là cái đích để mọi người hướng tới, ngày đêm trăn trở và đó cũng là những vấn đề mà thế giới người ta quan tâm tới những nền văn hóa đặc thù của các dân tộc và các địa phương riêng biệt. và muốn tồn tại thì phải phát triển và nâng cao cho phù hợp với đời sống và quan điểm của thời hiện tại và được người đương thời chấp nhận. Đó là một vấn đề cực kì khó không những làm đau đầu những nhà quản lí, người nghiên cứu và cả những người quan tâm.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Nguyễn Du và Phật giáo trong tác phẩm Truyện Kiều

NGUYỄN DU VÀ PHẬT GIÁO
TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN KIỀU

                                                                  LÊ THANH LONG

N
guyễn Du sống trong một xã hội nhiều biến động, rối ren, trong đại gia đình nhiều thăng trầm ở giai đoạn suy thoái, họ Nguyễn Tiên Điền sa sút, tiêu điều. Ngay từ nhỏ Nguyễn Du đã gặp nhiều biến cố, cuộc sống long đong, lận đận. Ông đọc nhiều, biết nhiều, chịu ảnh hưởng của nhiều luồng tư tưởng, triết lý đương thời. Ông sống trong một xã hội chế độ phong kiến đã mục nát, lung lay và trong hoàn cảnh bản thân không thể nói ra chính kiến của mình. Ông thu mình lại. Vì vậy trong Truyện Kiều các luồng tư tưởng, triết lí nhân sinh cứ trộn lẫn, hòa vào nhau, khó phân định ra  rạch ròi.
   Truyện Kiều của Nguyễn Du thực chất là một tác phẩm thơ hiện thực, phản ánh xã hội thời Nguyễn Du đang sống, phản ánh hiện thực sinh động tư tưởng, triết lí nhân sinh của Nguyễn Du. Tuy không đưa ra một triết lí xuyên suốt, nhưng phản ánh các triết lí nhân sinh mà Nguyễn Du đã tiếp nhận được trong sách vở, trong thực tế xã hội đương thời và quan niệm sống của nhân dân cũng như bản thân ông. Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và giáo lý, đạo lý của xã hội Việt Nam thời Nguyễn Du sống hòa quyện trong Truyện Kiều.
   Phật giáo không chỉ là một tôn giáo với hệ thống thần linh và nghi lễ thờ cúng mà còn là một học thuyết triết học sâu sắc lí giải về quan niệm sống của con người và những vấn đề liên quan đến con người và cuộc sống con người. Phật giáo ảnh hưởng sâu sắc đến quan điểm sống của Nguyễn Du trong khi viết Truyện Kiều thông qua khái niệm nhân quả, nghiệp báo, tâm… thể hiện trong cuộc đời của Thúy Kiều và các nhân vật khác. Phật giáo hướng con người tới các giá trị chân - thiện - mỹ làm việc tốt, tránh xa cái ác. Triết lý nhân sinh của Phật giáo thể hiện trong quan niệm về nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. sống trong luân hồi, thoát khỏi luân hồi, chấm dứt sinh tử, có được Niết bàn an vui.               
   Về cõi Niết bàn thực chất là một sự tự an ủi của con người sau bao biến cố, đau khổ, vui buồn ở cõi trần gian, thanh thản mà nhắm mắt, xuôi tay. Thuyết nhân quả thực chất là để răn đe con người đừng làm việc xấu, việc ác và phải luôn cố gắng trong mọi việc để đạt được kết quả tốt đẹp, để lại lộc trời, lộc đời cho con cháu. Cho mình sướng là mình sướng, cho mình khổ là mình khổ. Phật giáo là chỗ dựa tinh thần của con người trong cuộc sống đầy bất trắc và đầy cám dỗ.
   Theo Phật giáo thì ở đời không có gì là không có nhân duyên, nhân duyên đó kết hợp thành cái nghiệp. Mọi khổ đau của con người là do mình gây ra. Đó là cái nghiệp, là cái số của Thúy Kiều. Nghiệp theo Phật giáo là cái mà ta yêu thích, mong ước và làm theo, đó là căn nguyên của mọi khổ đau. Trái với cái định mệnh (của Nho giáo) là cái sức mạnh xa lạ từ bên ngoài đè nén ta.                                             
   Nghiệp là cái số mệnh do mình làm ra, Làm việc thiện thì được hưởng thiện nghiệp, làm việc ác thì phải chịu ác nghiệp hay nghiệp chướng, nghiệp báo hay quả báo là một trong 24 nhân duyên của kiếp người.
   Triết lý luân hồi của đạo Phật: “Kiếp xưa đã vụng đường tu/ Kiếp này chẳng kẻo đền bù mới xuôi” hoặc “Kiếp này trả nợ chưa xong/ Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau”.   Trước cám dỗ của cuộc sống người ta tạm thời quên đi lời răn dạy của Phật, sau những thất bại trầm luân, khổ ải người ta tìm đến cứu cánh của Phật làm chỗ dựa tinh thần, an ủi, động viên… để tiếp tục sống. Giữa cuộc sống đời thường và đạo lý nhà Phật cứ xung đột, thăng trầm trong bản thân mỗi con người, nhất là trong xã hội hiện đại có biết bao cám dỗ, ham muốn hưởng thụ. Cái sung sướng, giầu sang hưởng thụ lên đến tột đỉnh và cái khổ xuống đến tận đáy sâu thẳm. Thiên đàng và địa ngục tồn tại ngay trong thực tế dương gian, chứ không còn là trong tưởng tượng nữa. Triết lí Phật giáo cũng biến đổi và sự tiếp nhận, quan niệm lời răn dạy của Phật trong lòng người hiện đại cũng thay đổi theo cách nghĩ, cách hiểu của bản thân họ. Cá nhân được đề cao, đồng tiền thống trị và có lẽ lời Phật dạy là cứu cánh cuối cũng khi sa cơ, lỡ bước. 
   Mệnh của Nho giáo là thiên mệnh (mệnh trời). Số phận của con người đã được Trời sắp đặt sẵn, làm trái ý Trời sẽ bị phạt. Vua là Thiên tử (con Trời) thay Trời trị dân: “Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Nói về cái số (phận) của con người “Có trời mà cũng hại ta? Khi nên trời cũng chiều người”. Ngược lại Nguyễn Du cũng có câu thơ không tin vào trời: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.
   Còn Lão giáo với triết lí vô vi phóng khoáng, sống tự do phiêu lãng nơi mây bay hạc lánh. 
   Trong Tuyện Kiều trước tiên Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, triết lí nhân sinh “Tài mệnh tương đố”: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau/ Lạ gì bỉ sắc tư phong/ Trời cao quen thói má hồng đánh ghen”.
   Trong một xã hội phụ nữ phải tuân thủ lễ giáo “Công dung ngôn hạnh” theo thuyết “Tam tòng tứ đức” của Khổng Tử mà Thúy Kiều dám: “Xăm xăm bằng lối vườn khuya một mình/ Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”. Vì tình yêu Thúy Kiều vượt qua cả lễ giáo phong kiến đương thời, tư tưởng tư do yêu đương chưa từng có thời đó, nên Thúy Kiều bị một số nhà nho lên án, tẩy chay Truyện Kiều, cho rằng Thúy Kiều đĩ thõa. Nhưng thực ra quan điểm về tình yêu, hôn nhân và gia đình của Thúy Kiều rất nghiêm túc: “Đạo tòng phu lấy chữ Trinh làm đầu/ Đã nguyền hai chữ đồng tâm/ Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai”. Cho đến bây giờ tư tưởng tự do hôn nhân, tự do tìm hiểu ở giới nữ trẻ mới đạt đến tư tưởng tiến bộ như Thúy Kiều thời ấy, sau khoảng 150 năm Truyện Kiều ra đời. 
   Theo quy luật tự nhiên mọi sự vật đều không ngừng biến đổi, Phật giáo cũng vậy và Nguyễn Du cũng vậy. Ông viết Truyện Kiều trước tiên theo tiếng gọi của tình cảm lòng mình, theo luân lí của hiện thực xã hội đương thời trước khi nghĩ đến triết lý và giáo lý nhà Phật và các giáo lí khác. 
   Có lẽ trong khi viết Truyện Kiều những tư tưởng có sẵn trong người Nguyễn Du cứ bộc lộ ra. Ta thấy Nguyễn Du khi viết Truyện Kiều không có một tư tưởng chủ đạo xuyên suốt mà nó cứ đan xen, trộn lẫn các luồng tư tưởng, quan điểm, triết lí nhân sinh khác nhau: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo… đến tư tưởng hiện thực trong xã hội đương thời.
   Quy luật của tự nhiên là thay đổi, biến đổi để thích nghi, con người, Phật giáo và xã hội cũng vậy. Tư tưởng, cách sống, cách nghĩ và nhân sinh quan của con người hiện đại khác xa so với thời Nguyễn Du, cách hiểu của con người thời nay về Phật giáo cũng khác xưa. Trong thực tế khi viết Truyện Kiều liệu Nguyễn Du có thực sự muốn đưa ra một triết lí nhân sinh nào đó của cá nhân mình hay chỉ nêu ra những tư tưởng, triết lý nhân sinh trong xã hội  thời ông đang sống theo cách nhìn - nhân sinh quan của riêng ông.                                                        
   Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và giáo lý, đạo lý của xã hội Việt Nam hòa quyện trong xã hội, trong mỗi con người. Nổi bật nhất trong giáo lý, đạo lý của xã hội Việt Nam là chữ hiếu đối với cha mẹ, điều này còn được răn dạy trong Nho giáo (Trung hiếu tiết nghĩa,   Công dung ngôn hạnh). Thúy Kiều được ca ngợi, yêu quý chính là lòng hiếu thảo, liều thân bán mình chuộc cha: “Thà rằng liều một thân con/ Hoa dù rã cánh lá còn xanh cây/ Hổ sinh ra phận tơ đào/ Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong”. Tình yêu và sự chung thủy truyền thống: “Nhớ lời nguyện ước ba sinh/ Còn duyên may lại còn người/ Còn vầng trăng cũ còn lời nguyền xưa/ Tiếc thay chút nghĩa cũ càng/ Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng/ Dẫu rằng vật đổi sao dời/ Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh”.                   
   Triết lí nhân sinh của Nguyễn Du trong Truyện Kiều thể hiện một cách sáng rõ trong nội hàm câu thơ: “Mới hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân”. Mỗi người sinh ra đều có một thân phận. Muôn sự đều do trời. Trời ở đây là trời trong Nho giáo, thiên mệnh do giai cấp thống trị chi phối (con trời) thay trời trị dân, trời trong Phật giáo là cái số mình như vậy, trời của Lão giáo là tự do phiêu lãng nơi mây bay hạc lánh, cuối cùng trời là giáo lý, đạo lý của xã hội Việt Nam - nơi mình đang sống, là thiên thời, địa lợi, nhân hòa mình có được.
   Trong xã hội Việt Nam Nho giáo chỉ còn lại là những thuần phong mỹ tục, đối nhân xử thế theo đạo lý truyền thống của dân tộc. Phật giáo dần trở thành đạo đức về từ bi bác ái, tu nhân tích đức. 
   Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo đã để lại dấu ấn trong tâm lý, tính cách của người Việt Nam cùng với đạo lý truyền thống dân tộc trở thành đạo đức văn hóa riêng của con người, dân tộc Việt Nam. Các triết lý nhân sinh hòa quyện vào nhau vừa có thể cầu trời vừa có thể khấn Phật, song vẫn tự tin ở bản thân mình. 
   Cuối cùng Nguyễn Du chốt lại triết lý nhân sinh của riêng mình: “Phúc họa đạo trời/ Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra/ Có trời mà cũng hại ta/ Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ tâm kia với bằng ba chữ tài”. Tất cả cội nguồn mọi sự cũng là do mình, ở mình mà ra. Cái mà Nguyễn Du có được trong Truyện Kiều được dẫn dắt bởi chính hiện thực xã hội và tình cảm yêu ghét của ông đối với cuộc đời, đối với cái đẹp. Những câu thơ hay là tự đáy lòng ông bộc lộ ra một cách tài tình: “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Đâu chỉ có riêng Thúy Kiều đau khổ, tủi nhục mà đó là nỗi khổ chung của phụ nữ thời ông sống. Chỉ có người thông cảm, yêu thương con người sâu sắc và có lòng vị tha mới có thể rung động để viết ra được những câu thơ hay đến vậy. 
   Mối tình đầu sâu sắc của Thúy Kiều với Kim Trọng là cái chìa khóa mà Nguyễn Du dựa vào để mô tả tâm trạng, nỗi lòng, trạng thái tâm lý đặc biệt của Thúy Kiều, làm bộc lộ ra bản chất tốt đẹp của Thúy Kiều 15 năm ở chốn lầu xanh (chung thủy, nhớ thương, hiếu thảo… ) và từ đó thể hiện được cái tài kiệt xuất của ông trong từng câu thơ. Truyện Kiều nổi tiếng trước hết vì nó là tác phẩm thơ với những vần thơ sâu thẳm, thăng hoa tuyệt diệu: “Dặm khuya ngất tạnh, mù khơi/ Thấy trăng mà thẹn những lời non sông/ Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng/ Bốn phương mây trắng một màu/ Trông vời cố quốc biết đâu là nhà/ Phận bèo đâu quản nước sa/ Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh”.                                                         Truyện Kiều đã sống được khoảng 150 năm (1871-2017) và sẽ còn sống mãi với nhân dân Việt Nam.

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Thơ là của riêng ta

LÊ THANH LONG

THƠ LÀ CỦA RIÊNG TA

   Thơ ca là nơi để chia sẻ, thể hiện tâm tư, tình cảm. nỗi lòng, mong ước, là nơi để ta giao lưu… và đơn giản đó là nơi để ta viết ra cái ta muốn viết.
   Thời nay những quan điểm, suy nghĩ, nhìn nhận các vấn đề của xã hội và thời cuộc là vô cùng đa dạng và nhạy cảm, thể hiện nó ra như thế nào và bằng cách nào cũng lại vô cùng mênh mông và đa dạng. Mỗi người một ý thích, mỗi người có một cách viết khác nhau, cái tôi được thể hiện một cách tối đa, có người thích viết đơn giản, mộc mạc, mô tả tâm tư tình cảm, sự vật, sự việc một cách chân thành, không cầu kỳ như con người vốn có của họ, có người thích chọn chữ, chọn câu, chọn ý độc đáo, lạ và sâu sắc, có người lại chỉ chú ý đến nội dung ẩn chứa ở đằng sau câu chữ, bỏ qua tất cả vần điệu và hình ảnh… Đó thuộc về bản chất, nội tâm, tính đơn giản, tính hoa lá, sự sâu nặng, nhạy cảm… trong suy nghĩ, trong tâm hồn, tích cách, quan niệm và khả năng tư duy trời phú của mỗi người, không ai giống ai. Sinh ra mỗi người đã là một thực thể khác nhau rồi, đa dạng trong tự nhiên cũng như đa dạng trong thơ ca là điều cần có, cần thiết và cũng là điều hiển nhiên.
   Thơ ca mênh mông, vô định, vô cùng, vô tận và vô ngôn… để có thể nói cho hết được về nó. Thơ ca của mỗi người cứ hiện ra cái hình hài và bản chất của nó một cách tự nhiên, một cách đột xuất, đột biến và đột ngột trong một giây, một thời khắc nào đó của tâm tư, tình cảm của con người, thoáng đến và rồi đột ngột biến mất nhanh đến nỗi có khi không kịp ghi lại… nó được người đời gán cho một từ rất hoa mỹ là sự thăng hoa cảm xúc. Đó chính là sự đa dạng, sự mê hoặc khó nắm bắt, khó đoán định của thơ ca.
   Sự khen chê trong thơ ca cũng tùy vào quan niệm, quan điểm, sự đồng cảm, đồng điệu, đồng cảnh của mỗi người… Ta cứ làm thơ theo cách mà ta thích, theo cách mà ta nghĩ, theo quan điểm mà ta sống và theo cuộc sống mà ta có, đó chính là thơ của riêng ta.

Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

Gió đông, gió xuân hay gió mùa?

GIÓ ĐÔNG, GIÓ XUÂN HAY GIÓ MÙA…?
(Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông)

   Câu thơ “Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” được chú giải là: Dùng ý câu thơ của Thôi Hộ để nói không thấy bóng dáng nàng Kiều ở đây, chỉ thấy hoa đào vẫn cười với gió đông như năm xưa mà thôi. Thôi Hộ đời Đường, nhân tiết Thanh minh, đi đến nơi kỳ ngộ, tìm người con gái đã gặp gỡ năm trước thì chỉ thấy cửa đóng, người đi đâu vắng, nhân đó mà làm bài thơ, trong có câu: “Nhân diện bất tri hà xứ khử, hoa đào y cựu tiếu đông phong”. Nghĩa là: “Mặt người không biết đi đằng nào, hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ”.
   Ta chú ý tới sự kết hợp chặt chẽ, gắn bó giữa hai câu thơ lục bát trên của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. “Trước sau nào thấy bóng người” là chỉ sự vắng vẻ, ở nơi đây không “thấy” một “bóng người” nào. “Bóng người” ở đây là ám chỉ ai? Nguyễn Du tả Kim Trọng đứng đó mà không thấy “bóng người” xưa, không thấy Thúy Kiều, không thấy bất cứ ai! Liên kết câu thơ trên với câu “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” rõ ràng “hoa đào” ở đây không phải để tả bông hoa đào mà để chỉ Thúy Kiều năm xưa; lúc Kim Trọng gặp như một bông “hoa đào” rực rỡ bung nở như “cười” với gió đông. Cô gái đẹp tuổi trăng tròn Thúy Kiều như “hoa đào” mùa xuân nở ra một vẻ đẹp kiều diễm, phơi phới trước “gió” đông. Cái “gió” đông đánh thức mọi vẻ đẹp của người thiếu nữ đang tuổi dậy thì. Cái “gió” đông đó chính là chàng trai Kim Trọng - cái luồng “gió” tình yêu say đắm, cũng như hoa đào khi có gió đông thì bung nở.
   “Gió đông” hay là “gió xuân”? Trong văn chương và nhất là trong thơ người ta hay nói một cách hình tượng thì dùng “gió xuân” là cách nói hay chung chung, dễ được chấp nhận, người đọc muốn hiểu “gió xuân” thổi từ đâu tới, thổi từ hướng nào tới thì hiểu, cần gì phải nói cụ thể ra là “gió đông”. “Gió đông” người đọc có thể hiểu là “gió” từ hướng “đông” thổi tới, hay “gió” mùa “đông” và trong thực tế liệu gió ở Trung Quốc vào mùa xuân , khi hoa đào nở, có phải là “gió đông” chỉ thổi theo một hướng “đông” hay không? Vậy tại sao Thôi Hộ cứ phải khăng khăng nói “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” (Hoa đào còn cười với gió đông như cũ).
   Về phái gió xuân tìm thấy ở sách Đường Thi của cụ Lệ Thần. Cụ Lệ Thần đã chép rất rõ là xuân phong ở cả hai dạng Quốc ngữ và chữ Nho. Tuy nhiên khi dịch bài thơ của Thôi Hộ bằng thể thơ lục bát cụ Lệ Thần vẫn dịch là: “Hôm nay, năm ngoái, cửa cài/ Hoa đào ánh với mặt người đỏ tươi/ Mặt người chẳng biết đâu rồi/ Hoa đào còn đó vẫn cười gió đông.
   Ta lại có dịp liên hệ đến câu thơ của Nguyễn Du “Tường đông ong bướm đi về mặc ai”. Trai thanh, gái lịch - “ong bướm” chẳng có thể đi qua được bức “tường đông” cái bức “tường” vô hình, mà muốn vào đến chỗ phòng các cô gái ở phía “đông” thì đều buộc phải đi qua cổng chính. “Tường đông” là cách nói hình tượng, vậy “gió đông” cũng chỉ là cách nói hình tượng, cái “gió” thổi đến căn phòng của các cô gái ở phía “đông”, mà ở đây là chỉ cô Thúy Kiều - cái cô “hoa đào năm ngoái” “còn cười” với “gió đông” là anh Kim Trọng đã tìm đến cái phía “đông” chỗ cô Kiều ở.
   Trong truyện Tam quốc diễn nghĩa Gia Cát Lượng nói với Chu Du: Muốn đánh Tào Công/ Phải dụng hỏa công/ Muôn việc đã đủ/ Chỉ thiếu gió đông.
   Trận Xích Bích là một trận đánh lớn cuối thời Đông Hán có tính chất quyết định đến cục diện chia ba thời Tam Quốc. Trận đánh diễn ra vào mùa đông năm Kiến An thứ 13 (tức năm 208) giữa liên quân Tôn Quyền - Lưu Bị với quân đội lấy danh nghĩa triều đình của Tào Tháo. Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của phe Tôn - Lưu, tạo cơ sở cho việc hình thành hai nước Thục Hán và Đông Ngô. Vị trí chính xác của trận Xích Bích cho đến nay vẫn là điều gây tranh cãi. Phần lớn các học giả cho rằng Xích Bích nằm ở đâu đó trên bờ nam Trường Giang giữa Tây Nam Vũ Hán ngày nay và Đông Bắc Ba Khâu (nay là thành phố Nhạc Dương)  
   Trước khi lâm trận trong một đêm đông ở thủy trại, Tào Tháo ngồi uống rượu và nhân hứng làm bài thơ “Đoản ca hành kỳ 1” (Bài hát ngắn kỳ 1) có đoạn: “Trước rượu nên hát/ Đời người bao lâu?/ Giống như sương sớm/ Ngày qua khổ đau/ Nghĩ tới ngậm ngùi/ Buồn lo suốt đời/ Lấy gì quên được?/Chỉ rượu mà thôi/ Xanh xanh áo ai/ Lòng ta bồi hồi/ Chỉ vì ai đó…”
   Thời điểm diễn ra trận Xích Bích là vào thời tiết mùa đông rõ rệt, khi đó chỉ có gió Tây - Bắc, nên Tào Tháo hết sức an tâm. “Thời điểm rét nhất chỉ có gió Tây Bắc chứ làm gì có gió Đông Nam. Quân ta ở hướng Tây Bắc, quân địch ở bờ nam, nếu chúng châm lửa chẳng phải tự đốt quân mình hay sao, ta sợ gì?”
   Mọi sự chuẩn bị cho trận Xích Bích đã sẵn sàng nhưng chỉ thiếu gió đông. Một hôm, Chu Du đứng quan sát động tĩnh quân Tào thì gió Tây - Nam nổi lên, đập cả cờ phướn vào mặt.
   Chu Du vì quá lo lắng nên thổ huyết mà ngã xuống bất tỉnh. Nghe tin, Gia Cát Lượng mượn cớ đến thăm và viết mật thư 16 chữ: “Dục phá Tào công, nghi dụng hỏa công; Vạn sự cụ bị, chỉ kiếm đông phong”. Câu này có nghĩa là muốn đánh bại Tào tháo thì nên dùng hỏa công, mọi sự chuẩn bị đã xong, chỉ chờ gió đông.
   Vui mừng vì Gia Cát Lượng hiểu được nỗi lo lắng của mình, Chu Du hỏi xem Lượng có kế gì hay. Gia Cát Lượng tự tin nói mình có tài “hô phong hoán vũ”, mượn gió đông 3 ngày 3 đêm để giúp Đông Ngô đánh Tào Ngụy.

   Theo yêu cầu của Gia Cát Lượng, Chu Du cho người lập Thất tinh đàn ở phía nam Tịnh Sơn, tạo điều kiện để Lượng hàng ngày cầu khấn. Mặt khác, Chu Du cũng ra lệnh cho Hoàng Cái chuẩn bị sẵn 20 thuyền nhẹ chất đầy vật dễ cháy để chuẩn bị đánh Tào. Nhiều ngày trôi qua mà thời tiết chưa có dấu hiệu biến chuyển khiến Chu du lo lắng. Nhưng đến một ngày, gió Đông Nam bỗng nhiên thổi mạnh. Chu Du chỉ chờ có vậy phất cờ tấn công. Hoàng Cái soái lĩnh đội thuyền hỏa công, vờ ra hàng Tào Tháo để tìm cách đến gần rồi bất ngờ phóng hỏa, thiêu cháy chiến thuyền Tào Ngụy. Gió đông càng thổi mạnh khiến lửa bén nhanh, chỉ trong chốc lát, hàng trăm chiến thuyền chìm trong biển lửa.

   Trên thực tế, Gia Cát Lượng không phải là người giỏi trong việc dự báo thời tiết, ông chỉ có thể đoán ngày nào có gió đông chứ không “mượn” được gió. Gia Cát Lượng là người am hiểu về Kinh Dịch, nên lợi dụng sự biến đổi định kỳ của thời tiết để giúp quân sĩ có sức chiến đấu tốt nhất.
   Theo cách lý giải khoa học, Xích Bích là khu vực nằm ở phía đông, gần khu vực sông Trường Giang. Vào mùa đông, vùng đất này hạ nhiệt độ nhanh hơn ở trên sông, tạo thành các khối khí áp cao, giúp cho xuất hiện gió Đông Nam trong từng khoảng thời gian nhất định.
   Theo các học giả Trung Quốc, Gia Cát Lượng có thể dự đoán sự xuất hiện của gió Đông Nam nhờ khả năng tinh thông địa lý và thiên văn, ông có thể nhận ra những hiện tượng bất thường để biết được dấu hiệu thời tiết thay đổi.
   Cũng có thể gió đông giúp thiêu cháy chiến thuyền Tào Tháo trong trận Xích Bích chỉ là lời thêu dệt. Nếu không có gió, liên minh Lưu Bị - Tôn Quyền vẫn có thể sử dụng các yếu tố về địa hình để dùng hỏa công.
   Sau này, khi đọc Kinh Dịch, Tào Tháo đã ngộ ra nguyên nhân thất bại của mình là bởi yếu tố thời tiết và chỉ còn biết cười lớn.
   Như vậy trong trận Xích Bích Gia Cát Lượng và Chu Du đợi gió Đông - Nam chứ không phải gió Đông. Trong thực tế không có gió thổi chính hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, mà thường là gió mùa theo hướng Đông - Nam, Đông - Bắc… Trong văn chương người ta chỉ nói hướng gió chính, nói một cách biểu trưng. Ví dụ gió Đông là gió mùa Đông - Bắc vào mùa xuân, mùa hè có gió mùa Đông - Nam… Nói Đông phong phải hiểu là gió mùa Đông  Bắc, chứ không có gió chỉ thổi theo chính hướng Đông. Vào mùa Đông ở Trung Quốc có gió Tây - Bắc, vào mùa xuân có gió mùa Đông - Bắc, thổi từ vùng lạnh phía Bắc xuống. Còn vào mùa hè có gió nồm Nam; gió nóng thổi từ vùng Xich Đạo Đông - Nam lên, giống như ở Việt Nam.
   Gió đông không phải là gió xuân; gió mùa xuân. Gió mùa xuân là gió Đông - Bắc. Gió mùa  đông là gió Tây - Bắc. Gió mùa hè là gió nồm Nam, thực tế gió mùa hè là gió Đông - Nam. Gió chuyển từ Tây - Bắc sang Đông - Bắc rồi Đông - Nam, thời tiết sẽ chuyển dần từ mùa đông, sang xuân, rồi sang hè.
   Điều gì tạo ra mùa? Nói một cách ngắn gọn Trái Đất có các mùa khác nhau là do trục nghiêng của Trái Đất; trục quay của Trái Đất nghiêng một góc 23° 27’  so với trục thẳng đứng (trục thẳng đứng là trục vuông góc với mặt phẳng chuyển động quanh mặt trời của trái đất), nên vào mùa hè thì Bắc bán cầu nhận được nhiều ánh sáng hơn, ngược lại vào mùa đông thì ít nhận được ánh sáng hơn. Nếu trục quay của trái đất không nghiêng thì sẽ không có các mùa. Khí hậu sẽ không thay đổi. Thời tiết các mùa còn do vị trí của Trái Đất chuyển động so với Mặt Trời, được quyết định bởi sự tiếp nhận năng lượng Mặt Trời nhiều hay ít.
   Người ta chia một năm ra bốn mùa. Các nước theo dương lịch ở bán cầu Bắc lấy bốn ngày: xuân phân (21/3), hạ chí (22/6), thu phân (23/9) và đông chí (22/12) là bốn ngày khời đầu của bốn mùa. Ở bán cầu Nam, bốn mùa diễn ra ngược với bán cầu Bắc.

Trái đất quay quanh mặt trời tạo ra các mùa.

   Nước ta và một số nước châu Á quen dùng âm - dương lịch, thời gian bắt đầu của các mùa được tính sớm hơn khoảng 45 ngày :
-    Mùa xuân từ 4 hoặc 5/2 (lập xuân) đến 5 hoặc 6/5 (lập hạ).
-    Mùa hạ từ 5 hoặc 6/5 (lập hạ) đến 7 hoặc 8/8 (lập thu).
-    Mùa thu từ 7 hoặc 8/8 (lập thu) đến 7 hoặc 8/11 (lập đông).
-    Mùa đông từ 7 hoặc 8/11 (lập đông) đến 4 hoặc 5/2 (lập xuân).

   Ở Trung Quốc do vị trí các khu vực ở phía bắc, có khu vực xa biển, có khu vực gần biển, có khu vực là bình nguyên, có khu vực là núi cao, có khu vực gió thường thổi theo hướng này nhưng cũng có khu vực gió thổi theo hướng kia. Như thế trong cùng một thời gian, khí hậu ở các khu vực là khác xa nhau. Ví dụ vào tháng 1 ở Cáp Nhĩ Tân băng tuyết phủ đầy mặt đất nhưng ở Quảng Châu lại toàn nhìn thấy hoa đỏ lá xanh. Để biểu thị các mùa vốn có ý nghĩa thực tế người ta đã ứng dụng sự cao thấp về nhiệt độ để phân chia. Phương pháp phổ biến ở Trung Quốc là lấy nhiệt độ bình quân 10°C của mỗi hậu (5 ngày là một hậu) làm nhiệt độ phân chia ấm lạnh. 22°C là nhiệt độ phân chia ấm nóng. Dưới 10°C là mùa đông, giữa 10°C  - 22 °C là mùa xuân, trên 22°C là mùa hè. Căn cứ vào tiêu chuẩn này để chia mùa, chính vì thế độ dài ngắn của 4 mùa ở các khu vực khác nhau thì sẽ khác nhau.
   Mùa xuân ở miền bắc Trung Quốc tương đối ngắn, nói chung không đến hai tháng. Ví dụ ở Bắc Kinh mùa xuân từ 1-5/4 đến 21-25/5, ở Thẩm Dương mùa xuân từ 21-25/4 đến 10-14/6, ở Cáp Nhĩ Tân mùa xuân từ 26-30/4 đến 20-24/6.
   Chiết Giang là một tỉnh ven biển phía đông của Trung Quốc. Tên gọi Chiết Giang lấy theo tên cũ của con sông Tiền Đường chảy qua Hàng Châu - tỉnh lỵ Chiết Giang, nơi có lầu Ngưng Bích. 
   Tên gọi tắt của tỉnh này là Chiết. Chiết Giang giáp giới với tỉnh Giang Tô và thành phố Thượng Hải về phía bắc, An Huy và Giang Tây về phía tây và Phúc Kiến về phía nam, phía đông giáp biển Hoa Đông. Trong tiếng Việt, Chiết Giang hay bị viết nhầm thành Triết Giang.
   Chiết Giang nằm ở vùng chuyển tiếp khí hậu giữa đại lục Âu-Á và vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, có khí hậu cận nhiệt đới gió mùa điển hình, bốn mùa rõ rệt. Mùa xuân từ tháng 3 đến tháng 5, mưa nhiều và khí hậu cũng biến đổi lớn; mùa hè từ tháng 6 đến tháng 9, mưa kéo dài và nhiệt độ rất nóng, ẩm; mùa thu có khí hậu ấm áp và khô; mùa đông không kéo dài song nhiệt độ lạnh. Nhiệt độ trung bình năm là 15 °C-18 °C, nhiệt độ trung bình tháng 1 (tháng lạnh nhất) là 2°C - 8°C và có thể xuống thấp đến -2,2°C đến -17,4°C, nhiệt độ trung bình tháng 7 (tháng nóng nhất) là 27°C-30°C và có thể lên cao đến 33°C - 43°C.
   Do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Á, nên hướng gió và lượng mưa có sự thay đổi đáng kể giữa mùa hè và mùa đông. Lượng giáng thủy hàng năm là 980 - 2000 mm, số giờ nắng trung bình năm là 1.710-2.100 giờ. Vào đầu mùa hè có lượng mưa lớn, thường gọi là "Mai vũ quý tiết" (mùa mưa gió mùa Đông Á), song tỉnh thường chịu ảnh hưởng của các cơn bão nhiệt đới từ Thái Bình Dương vào cuối hè. Vào mùa hè, gió đông nam chiếm ưu thế. Vào mùa đông, hướng gió lại chuyển thành hướng tây bắc, nhiệt độ cao dần từ bắc xuống nam.
   Do nằm trên vùng chuyển tiếp giữa vùng có vĩ độ thấp và trung bình, nằm ở ven biển, kết hợp với việc có địa hình nhấp nhô lớn, lại phải chịu ảnh hưởng kép của gió mùa nhiệt đới và khối khí lạnh lục địa, Chiết Giang là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của các cơn bão tại Trung Quốc.
   Hàng Châu có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Hàng Châu là 16,2 °C. Mùa hè nóng ẩm, trong khi mùa đông mát mẻ và khô hanh. Vào tháng 7, tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ trung bình xấp xỉ 33,8 °C; vào tháng 1 nhiệt độ trung bình khoảng 3,6 °C. Lượng mưa hàng năm là 1450 mm. Vào giữa mùa hè, Hàng Châu và nhiều thành phố khác của tỉnh Chiết Giang phải hứng chịu khá nhiều cơn bão từ biển Hoàng Hải, nhưng hiếm khi bị các cơn bão tấn công trực tiếp.
   Viết đến đây, không biết cụ Thôi Hộ và cụ Nguyễn Du nếu đọc những dòng này, sẽ nghĩ gì? Không biết các cụ có nổi cáu lên không? Dù thế nào, cũng đến lúc phải hạ bút rồi, tác giả xin được kết thúc bài viết bằng hai câu thơ:
   Lang thang trong “cõi người ta”
   Đi tìm, liệu có tìm ra cái gì!
                                                                      
                                             Hà Nội ngày 25.3.2017

                                               LÊ THANH LONG

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

Biên dịch, dịch ngược hay là viết lại

Biên dịch, dịch ngược hay là viết lại

                                                                             LÊ THANH LONG

B
ộ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện gồm 20 hồi là của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, người đời Thanh (Trung Quốc) tên là Từ Văn Trường, tức Từ Vị, còn có các bút danh Thiện Tri, Thanh Đằng, Điền Thủy Nguyệt (1521 – 1593), quê ở huyện Sơn Âm, tỉnh Chiết Giang.
   Ỏ Việt Nam ít nhất đang lưu hành ba bản dịch Kim Vân Kiều truyện.
   Bản biên dịch Kim Vân Kiều truyện sớm nhất ra tiếng Việt là của Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung (Hà Nội), Phan Bá Cẩn xuất bản năm 1925. Tân Dân tái bản 1928 - 1929 và gần đây được Bằng Việt giới thiệu, Nhà Xuất bản Văn học cấp phép, Công Ty Văn Hóa Việt in lại năm 2006.
   Tô Nam Nguyễn Đình Diệm có bản dịch khác với đầu đề Kim Vân Kiều truyện, năm 1971. Nhà xuất bản Hà Nội năm 1991 và Nhà xuất bản Hải Phòng tái bản năm 1999.
   Bản dịch Kim Vân Kiều truyện gần đây là của cụ Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh được Nhà Xuất bản Hải Phòng phát hành lần đầu năm 1994 và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản năm 1999 với lời giới thiệu của Nguyễn Đăng Na và Nguyễn Hữu Sơn.
  Ở Hoa Kỳ có cuốn Kim Vân Kiều truyện, do Đàm Quang Hưng chuyển ngữ, Yến Thanh xuất bản năm 2013 (Đàm Quang Hưng là Giáo sư Toán, Trường Đại học Cộng đồng Houston, Texas).     
   Trong bài viết này chúng tôi muốn nói về bản biên dịch của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung. Đã có một số nhận xét về bản dịch này:
    Bách khoa Toàn thư mở Wikipedia viết: "Bản dịch của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung (Phan Bá Cẩn xuất bản năm 1925), được Nhà Tân Dân tái bản năm 1928, chỉ lược dịch 17 hồi (bỏ hẳn ba hồi 6, 10, 20), lời dịch sơ sài không bám sát nguyên bản".
   PGS.TS. Nguyễn Đăng Na trong Lời dẫn về văn bản nhận xét “Bản dịch của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung bị bỏ mất ba hồi và cũng khá tùy tiện thêm bớt”. Nguyễn Hữu Sơn trong Lời giới thiệu nói rõ hơn “Bản dịch sớm nhất ra tiếng Việt là của Nguyễn Duy Ngung…, nhưng bản này không thật trung thành với nguyên tác vì dựa theo Truyện Kiều của Nguyễn Du mà phỏng dịch Kim Vân Kiều truyện”
   Theo Từ điển tiếng Việt: Phỏng dịch là  dịch lấy ý chính, ý chủ yếu, lược bỏ những phần, những ý không quan trọng. Biên dịch là dịch (văn bản, sách) (Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội - 2009). Ở đây chúng tôi không bàn đến việc phỏng dịch, biên dịch bỏ ít, bỏ nhiều hay dịch sơ sài, mà bàn đến việc phỏng dịch, biên dịch  không theo nguyên bản, không trung thành với nguyên tác làm méo mó tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và một điều quan trọng hơn thế là lấy thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du đưa vào bản phỏng dịch, biên dịch  Kim Vân Kiều truyện một cách tùy tiện theo kiểu “dịch ngược” từ thơ Kiều sang tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện. Điều này sẽ làm cho độc giả hiểu lầm, ngộ nhận và dễ dẫn đến những nhận định, đánh giá sai về tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu độc giả không được đọc bản dịch tiếng Việt nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà chỉ đọc bản phỏng dịch, biên dịch của cụ Nguyễn Duy Ngung, sẽ cho rằng Nguyễn Du viết Truyện Kiều trong đó có nhiều câu thơ lấy nguyên si từ lời văn của tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện đưa sang, làm mờ đi những giá trị đích thực cuốn Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du. Ngược lại người đọc lại cảm thấy tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện viết chau chuốt, lời văn hay như thơ.
   Có vô số những câu thơ trong Truyện Kiều được cụ Nguyễn Duy Ngung đưa vào cuốn Kim Vân Kiều truyện phỏng dịch, mà tôi tạm gọi là “dịch ngược” từ Truyện Kiều sang Kim Vân Kiều truyện, ở đây tôi chỉ xin trích dẫn ra một số làm ví dụ.
   Tác giả lấy ví dụ trích dẫn dựa vào ba cuốn sách mới in gần đây nhất. Cuốn Kim Vân Kiều truyện do cụ Nguyễn Duy Ngung dịch, nhà thơ Bằng Việt giới thiệu, được NXB Văn học cấp phép, Công ty Văn Hóa Việt in và phát hành năm 2006, để dễ theo dõi, được đánh số 1. Cuốn Kim Vân Kiều truyện do cụ Nguyễn Đức Vân và cụ Nguyễn Khắc Hanh dịch, Nguyễn Đăng Na và Nguyễn Hữu Sơn giới thiệu, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản năm 1999, được đánh số 2. Cuốn Truyện Kiều, bản Nôm của Hoàng gia triều Nguyễn (Bản lưu tại thư viện Anh quốc), Nguyễn Khắc Bảo phiên âm, chú giải, khảo dị,  NXB Lao Động, năm 2017, được đánh số 3.



Ví dụ 1:
:
   1.Xưa nay đại phàm những bậc giai nhân tuyệt sắc, thường không được hưởng hạnh phúc giàu sang, mà lại hay gặp những cảnh khắt khe, khổ sở. Xem như Chiêu Quân, Quý Phi, Phi Yến, Linh Đức, Tây Tử, Điêu Thuyền… toàn là những bậc hương trời sắc nước cả, nhưng số mệnh có ra gì đâu. Đó chẳng qua là con Tạo có thói ghét ghen, đã cho được mười phần nhan sắc thì bắt phải chịu mười phần chiết ma, đã cho một chút tài tình, lại tăng lên mấy từng nghiệt chướng. Cái công lệ “bỉ sắc tư phong” của Hóa công, nghĩ cũng hẹp hòi thay!
   Truyện này về đời nhà Minh, triều vua Gia Tĩnh. Khi bấy giờ có một nhà viên ngoại, quê ở Bắc Kinh họ Vương tên Lưỡng Tùng, biểu tự Tử Trinh. Người tính nho nhã ôn hòa, gia tư vào bậc phong lưu. Phu nhân là Hà Thị sẵn nết nhân từ hiền hậu. Ông bà sinh được một trai, hai gái, trai là Vương Quan, cho theo đòi nghiệp học. Hai gái đầu lòng, cô chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân: mai cốt cách, tuyết tinh thần, mỗi người một vẻ đẹp, nhưng cả hai đều là trang tuyệt sắc. Hai chị em rất thông minh, thơ hay, vẽ giỏi. Nếu đem tài sắc mà so, thì Thúy Kiều có phần hơn Thúy Vân. Cô chị sắc sảo mặn mà, cô em đoan trang, thùy mị.
   Thúy Kiều rất sành âm luật, rất giỏi Hồ cầm. Thúy Vân thường can chị rằng:
-Chị ơi! Em thiết nghĩ Hồ cầm không phải nghề chơi của con nhà khuê các, chị không nên đam mê quá, mà người ta chê cười.
   Thúy Kiều, tuy thấy em can, cũng coi làm thường. Sau lại soạn một khúc “bạc mệnh oán” để hòa theo vận đàn, giọng rất bi ai, thống thiết, ai nghe cũng phải lấy làm não ruột mà động lòng bi thương (Tr. 23 - 24).
   2.Nói về ở Bắc Kinh, có một vị viên ngoại họ Vương tên Lưỡng Tùng, tự Tử Trinh, tính tình thuần thục trung hậu, gia kế thường thường, không dồi dào cũng không túng kém. Vợ họ Hà, cũng là người hiền năng, sinh được một con trai, tên Vương Quan, học tập nghiệp nho, và hai gái, chị tên Thúy Kiều, em tên Thúy Vân, tuổi đều đang độ thanh xuân. Cả hai chị em đều thạo thơ phú. Riêng Thúy Kiều vẻ người tha thướt phong lưu, tính chuộng hào hoa, lại thích âm luật, rất thạo ngón hồ cầm. Thúy Vân dáng yêu kiều, hiền dịu, thấy Thúy Kiều thạo hồ cầm, thường nhân lúc rảnh can ngăn chị:
-Âm nhạc không phải là công việc khuê phòng, e người ngoài nghe biết, không được nhã!
   Thúy Kiều nghe em can, nhưng không cho thế là phải, thường soạn bài ca bạc mệnh, phả vào hồ cầm, trăm vần thê lương, khiến người nghe thấy đều chau mày rơi lệ (Tr,29 - 30).
   3.Trăm năm trong cõi người ta, 1
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy đã đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc thử phong,
Trời xanh quen với má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình có lục còn truyền sử xanh.
Rằng: Năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ, nối dòng nho gia.
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Một người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc nói đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài sắc, lại là phần hơn. 24
   Trong sách đã dẫn 1, đoạn đầu từ “Xưa nay… hẹp hòi thay” là thêm vào dựa theo thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều, không có trong nguyên tác Kim Vân Kiều truyện. Những chỗ in đậm nghiêng (trong sách đã dẫn 1) là thơ Kiều trong Truyện Kiều.
Ví dụ 2:
1.Lần lần ngày gió đêm trăng; thưa hồng, rậm lục đã chừng xuân qua. Một ngày kia Vương viên ngoại có nhà thân thích làm lễ thượng thọ. Hai ông bà cùng các con là Thúy Vân và Vương Quan sắm sửa lễ vật để đi mừng. Thúy Kiều cáo ốm, không đi.
   Nhà hương thanh vắng một mình, ngẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay. Thúy Kiều đợi khi cha mẹ và hai em đi khỏi, liền sắm sửa các món thời trân, hộp ăn bầu rượu, đâu đấy đủ cả, rồi thẳng ra vườn sau, sẽ dặng tiếng vàng. Dưới hoa đã thấy có chàng Kim Trọng.
   Chàng Kim nghe tiếng gọi, trông thấy mặt Kiều, liền dẵm chân thở dài, mà rằng:
   -Trách lòng hờ hững với lòng, lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu!
(Tr. 50).
2.Lại nói, Thúy Kiều đề xong bài thơ tình, định gửi cho Kim Trọng, song gấp rút chưa tiện dịp, nghĩ đi nghĩ lại, nấn ná mấy ngày nữa. Một hôm Viên ngoại định đưa vợ con đi mừng tiệc thọ ở nhà bên ngoại, Thúy Kiều liền cáo bệnh xin ở nhà. Chờ cho cha mẹ và hai em đi rồi, vội vàng sửa soạn mấy món ăn và một hồ rượu ngon,đi vào vườn sau, định tìm gặp Kim Trọng để cảm tạ về chuyện trả thoa bữa trước. Vừa đến đầu tường trông sang, thấy Kim Trọng đã thẩn thơ ngồi đó.
   Kim Trọng thoạt thấy Thúy Kiều, liền dẫm chân nói:
-Con người sao mà nhẫn tâm thế! Không đoái tưởng gì đến nhau cả, khiến tiểu sinh trông chết đi được! (Tr. 55 - 56)
   3.Lần lần ngày gió đêm trăng, 369
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngày vừa sinh nhật ngoại gia,
Trên hai đường dưới nữa là hai em.
Tưng bừng sắm sửa áo xiêm,
Biện dâng một lễ xa đem tấc thành.
Nhà hương thanh vắng một mình,
Ngẫm cơ hội ngộ đã đành hôm nay.
Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường.
Cách hoa sẽ dắng tiếng vàng,
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông:
“Trách lòng hờ hững với lòng,
Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu.
Những là đắp nhớ đổi sầu,
Tuyết sương nhuốm nửa mái đầu hoa râm”. 372

Ví du3:
1…Thúy Kiều thấy thề độc địa, bụng nghĩ mừng thầm, từ đó mới an lòng vững dạ. Tú Mã sau khi sợ ở dưới lắm khách, liền sai dọn riêng cho Thúy Kiều ở trên lầu Ngưng Bích.
   Kể về lầu Ngưng Bích thì phía đông giáp Thượng Hải, phía bắc giáp Kinh kỳ, phía nam gần đất Kim Lăng, phía tây gần cõi Kỳ Sơn. Bốn bề bát ngát xa trông; cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia. Thúy Kiều ở đó, giận duyên, tủi phận, bẽ bàng mây sớm đèn khuya, nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng. Ngồi một mình tính quẩn lo quanh, tưởng đến những lời thề thốt cùng chàng Kim khi trước, tấm lòng lại càng chua xót đắng cay. Nhân những cảnh tiêu điều, lại sinh nhiều nỗi ngẩn ngơ, bèn mượn bút tả tình, đề mười khúc “Nhỡ nhàng” để tỏ lòng ai oán.
   Thúy Kiều đề xong, lòng càng ngao ngán, con mắt đăm đăm, trông ra bên ngoài thấy những cỏ hoa man mác, non nước mênh mông, gió cuốn mặt ghềnh, sóng dồn cửa bể. Trông xa xa lại những con thuyền xuôi ngược, cánh buồm phất phơ… Đau lòng lưu lạc, lại vịnh nên những câu tuyệt diệu (Tr. 133 - 135).
2… Thúy Kiều nghe nói lấy làm vui mừng, từ đó chịu khó ăn uống, thân thể dần dần khỏe mạnh.
   Tú bà sợ phía ngoài người qua lại phức tạp, nên cho Thúy Kiều rời sang ở lầu Ngưng Bích.
   Ngôi lầu này, từ phía đông trông ra biển xanh, phía bắc nhìn lên Kinh kỳ, phía nam ngó lại Kim Lăng, phía tây trông ra dãy núi Kỳ Sơn. Thúy Kiều đối cảnh buồn bã, nhớ lại cái ngày cùng chàng Kim trao lời thề thốt, thân thiết biết chừng nào, mà nay vắng bặt tăm hơi, thê lương biết là dường nào, nhân cầm bút viết ra mười bài “Chẳng cùng nhau” để ghi lại tấm tình thương nhớ:
   Thúy Kiều viết xong mấy vần câu ca lại thấy nước mới đầy khe, cỏ gò vương khói, tiếng triều rào rạt, cánh buồm thấp thoáng, bỗng lại nghĩ thành một bài thơ (Tr. 141 -142).
3… Thấy lời quyết đoán hẳn hoi, 1031
Đành lòng, nàng cũng sẽ nguôi nguôi dần.
Trước sau ngưng biếc, khóa xuân
Vệt non xa, tấm trăng gần, ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng.
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống hãy rày trông mai chờ.
Bên trời góc biển bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng đắp lạnh, những ai đó giờ?
Bồng Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?”.
Buồn trông cửa bể gần hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh thuyền xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Om thòm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
Chung quanh những nước non người,
Đau lòng lưu lạc nên vài bốn câu.1056
   Sách đã dẫn 1, khi tả lầu Ngưng Bích: “…Kể về lầu Ngưng Bích thì phía đông giáp Thượng Hải…), Thượng Hải hay là biển Đông?! Đọc hai đoạn trích trong sách đã dẫn 12 có nhiều điểm khác biệt về nội dung. Trong đoạn này thơ Kiều của Nguyễn Du chú tâm diễn tả nội tâm Thúy kiều, có nhiều sáng tạo hay hơn hẳn so với nguyên bản.

    Nhà thơ Bằng Việt trong lời giới thiệu cuốn Kim Vân Kiều truyện do cụ Nguyễn Duy Ngung biên dịch có đoạn viết: “…Tôi cảm thấy giọng văn và cách diễn đạt của bản đầu tiên (do nhà Tân Dân Thư Quán xuất bản), (tức bản của Nguyễn Duy Ngung) là phù hợp với bạn đọc phổ thông hơn cả, vì nhiều ưu điểm: Cách dịch khúc chiết, gọn gàng, gần với cách thưởng thức của độc giả hiện đại, nhưng vẫn giữ nguyên ý vị, lối nói và cách xưng hô của người thời cổ, không bị “hiện đại hóa” một cách tùy tiện, mất dấu ấn của 1 tác phẩm đã cách xa chúng ta gần 500 năm… Công lao của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung là biên dịch , chứ không đơn thuần chỉ là dịch. Chữ biên dịch có bao hàm cả nghĩa biên tập và biên khảo, vì thế, so với bản dịch mang tính “hàn lâm”, thì nó không thật sự nô lệ nguyên tác, mà có phần sáng tạo hơn, có chỗ văn dịch phóng khoáng như phóng tác; và vì cụ Hùng Sơn lại quá yêu Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, nên thay vì dịch câu văn cổ của Thanh Tâm Tài Nhân, cụ bèn thay ngay vào đó một câu thơ Nguyễn Du, diễn giải tương tự ý của nguyên tác, nhưng đã được cô đúc lại, mà nhờ thiên tài thơ của cụ Nguyễn Du nó đã được thăng hoa lên, để mọi ý tứ được diễn tả bỗng trở thành lung linh, sống động và gây được sự đồng cảm nhiều hơn ở người đọc. Tôi không nói rằng đây là cách dịch đúng nhất, nhưng theo tôi, riêng với trường hợp Truyện Kiều, mà mỗi chúng ta đều đã thuộc lòng từ tấm bé, thì cách “lẩy Kiều” này của cụ Hùng Sơn, nếu đưa vào đúng lúc, đúng chỗ, cũng không có gì phản cảm. Và với cách tiếp nhận của một độc giả phổ thông, không phải một nhà nghiên cứu kiểu Hàn lâm viện, thì tôi thấy rằng đọc bản dịch của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung sau khi đã được cả cụ Vũ Đình Long, chủ nhà Tân Dân Thư Quán biên tập lại và “tiếp thị” một cách tinh tế, thì hiệu quả đạt được quả là cao hơn nhiều. Chưa kể toàn bộ phần thơ trong bản dịch này được dịch nhuần nhuyễn hơn và hay hơn hẳn hai bản dịch còn lại rất xa. Chính vì thế, tôi đã chọn bản dịch này để tái bản, và tin rằng, bạn đọc hiện đại cũng như tôi, sẽ cảm nhận được nhiều điều thích thú và hài lòng thực sự khi tiếp cận với áng văn cổ “Kim Vân Kiều truyện” này. Có lẽ cũng cần phải nói thêm về ngôn ngữ trong sáng của bản dịch này, mặc dù nó đã ra đời cách đây đúng 80 năm, thuở chữ Quốc ngữ chỉ mới được hoàn chỉnh và phổ cập”.

   Độc giả khi đọc cuốn sách Kim Vân Kiều truyện do Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung dịch năm 1925 và được san nhuận (hiệu đính) lại đủ 20 hồi năm 1927, thực tế là không rõ thêm, không sáng tỏ thêm được gì về tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, mà chỉ càng thấy mơ hồ, mông lung, bất định…  không biết đâu là văn của Thanh Tâm Tài Nhân, đâu là thơ của Nguyễn Du nữa!
   Một tác phẩm văn học nước ngoài đã phỏng dịch, lược dịch và thay đổi nguyên bản, thêm vào bớt đi một cách tùy tiện thì tác phẩm ấy không còn giá trị cho việc nghiên cứu và tìm hiểu nữa.
   Cuốn Kim Vân Kiều truyện biên dịch của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung thực chất là một cuốn tiểu thuyết được viết lại dựa theo cuốn tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và Truyện Kiều của Nguyễn Du.
   Viết bài này tác giả không nhằm phê phán ai, cũng không muốn nói cuốn sách là hay hay là dở, mà chỉ mong độc giả khi đọc cuốn phỏng dịch Kim Vân Kiều truyện của cụ Hùng Sơn Nguyễn Duy Ngung hiểu đúng thực chất của bản dịch  được gọi là biên dịch, tránh những hiểu lầm đáng tiếc, ngoài ra cũng mong muốn các nhà Kiều học nghiên cứu nói rõ thêm về vấn đề này.
   Bài viết này mới chỉ là những nhận định sơ khai ban đầu của một độc giả yêu mến Truyện Kiều, cần phải được các nhà Kiều học nghiên cứu thêm, có điều gì sai sót xin được lượng thứ.

                                                Hà Nội ngày 18/02/2017

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

Bình luận

Sự cảm nhận từ
các giác quan trong thơ ca

                    LÊ THANH LONG
     
   Người ta thường ví von thưởng thức thơ như thưởng thức các món ăn. Nhưng tôi lại thích ví thưởng thức thơ như thưởng thức món Cocktail (coc tai). Cocktail là một loại thức uống được pha trộn chứa rượu thường bao gồm một hay nhiều loại rượu và hương như rượu mùi, trái cây, mật ong, sữa, kem… Cocktail là một đồ uống pha trộn hỗn hợp đa mùi vị chua có, mặn có, ngọt có, thậm chí có cả vị chát nữa, màu sắc thì vô cùng đa dạng, có tới mười ngàn công thức pha chế khác nhau, cốc đựng cũng rất đa dạng và có ở hầu khắp các nước trên thế giới. Kể ra như vậy để thấy Cocktail rất giống với thơ ca về chủng loại, màu sắc, mùi vị, cách chế biến cũng như thưởng thức. Làm và thưởng thức món Coctail này và món Cocktail thơ phải vận dụng cả 5 giác quan. Đó là Thị giác thưởng thức sự bắt mắt của các màu sắc phối hợp kỳ ảo, Thính giác nghe tiếng lanh canh của chiếc thìa kim loại va khẽ vào chiếc cốc thủy tinh trong suốt, Khứu giác ngửi những hương vị đa dạng của hoa quả và hương liệu tỏa ra ngào ngạt hoặc phảng phất nhè nhẹ, dìu dịu, Vị giác thưởng thức hương vị ngọt ngào chầm chậm ngấm vào từng tế bào vị giác và Súc giác  cảm nhận cái lành lạnh tỏa ra từ bề mặt chất lỏng từ cái cốc thủy tinh trong vắt. Nhưng sử dụng cả năm giác quan đó để làm thơ và bình luận thơ vẫn còn là chưa đủ. Khi đọc thơ trong chúng ta ai cũng có lần bắt gặp những bài thơ đọc lên chúng ta thấy hay, nhưng không nói ra được là nó hay ở chỗ nào?! Vậy tại sao chúng ta lại nói nó hay và thực tế là nó hay thật! Có điều đó xẩy ra, bởi vì chúng ta đã sử dụng đến cái giác quan vô hình. Đó là “giác quan thứ sáu” để xét đoán bài thơ. “Giác quan thứ sáu” vô hình đó chính  là sự cảm nhận. Đối với các nhà thơ và nhà bình luận thơ thì giác quan thứ sáu là quan trọng nhất, rồi tiếp đến là Thị giác và Thính giác.


   Khi ta đọc thơ bằng mắt, vẫn như thấy vang lên đâu đây cái âm thanh, nhịp điệu của câu chữ. Thơ có nhạc tính, nhạc điệu thì ai ai cũng nhận thấy. Và cái nhạc tính trong thơ tất nhiên là nghe bằng tai (thính giác) khi ta đọc lên, ngâm lên nhưng dù ta có đọc không thành tiếng thì vẫn như vang lên những âm thanh toát ra từ những con chữ và sự sắp xếp của những con chữ. Đó là sự cảm thụ trong tưởng tượng do đã hằn sâu vào trong trí não ta, tâm hồn ta khi ta tiếp nhận những từ ngữ đó nó gợi lên từ tấm bé cho đến suốt cả cuộc đời. Người đọc diễn cảm là người hiểu và tiếp nhận được đúng nội dung bài thơ.
   Trong thơ có họa thì các nhà thơ đều đã biết từ lâu “thi trung hữu họa”. Người ta tiếp nhận sự vật, sự vịêc, cảnh đẹp… trước hết là bằng thị giác (mắt nhìn) và người sáng tác thơ dù ít, dù nhiều đều vận dụng thị giác để “họa” lại những phong cảnh, sự vật, sự việc… nhưng khác văn xuôi ở chỗ nhà thơ đã lựa chọn những nét điển hình để xây dựng các hình tượng, biểu tượng cho bài thơ của mình.
   Khi làm thơ và khi viết lời bình người ta phải vận dụng tất cả sáu giác quan đó. Sau đây chúng tôi đưa ra một số ví dụ mà các nhà thơ đã vận dụng trong sáng tác và sáng tạo thơ như thế nào.
   Nguyễn Du đã quan sát một cách tinh tế và mô tả bằng vài nét chấm phá quang cảnh nơi Thúy Kiều gặp Kim Trọng:
Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Hay tả buổi chiều tà đang “thoi thót” dần tắt và trăng lưỡi liềm đang nhô lên khỏi chân trời trong lúc Thúy Kiều đang đợi Sở Khanh đưa đi trốn:
Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành
Và cái không gian buồn:
…Một vùng cỏ áy bóng tà
Vi lô hiu hắt một và bông lau
Thị giác là cơ quan tiếp nhận cảnh vật từ xa và bao quát được Trần Duy Quý mô tả rất khéo và ấn tượng:
Bao mùa lá rụng bên thềm
Bao mùa trăng đổ bạc trên tóc gầy
Hoặc như câu thơ của Khuất Bình Nguyên tả về cái xứ Đoài nhỏ bé gắn bó đời người và tượng trưng cho cả nền văn chương của đất nước:
Lang thang mây trắng xứ Đoài
Chưa ra khỏi ngõ đã vài trăm năm.
    Người ta còn vận dụng việc trình bày con chữ trên mặt phẳng giấy để gây ấn tượng thị giác trong Thơ tự do cũng như cách trình bày thơ Lục bát theo cách vắt dòng.
   Thính giác là cơ quan tiếp nhận âm thanh từ gần đến xa, từ nhỏ đến lớn… của các hiện tượng và sự vật diễn ra trước mắt. Nó là giác quan quan trọng bậc nhất, mà không một nhà thơ nào bỏ qua mà không tận dụng một cách hiệu quả để người đọc có thể cảm nhận được âm thanh của câu thơ khi đọc lên. Lúc này người đọc tiếp nhận âm thanh thông qua con chữ khi đọc lên hình dung và tưởng tượng quang cảnh, sự vật, sự việc do con chữ gợi lên. Nó sôi nổi, hào hùng, chát chúa, mãnh liệt, sôi động hay êm dịu du dương trầm bổng, thiết tha… Âm thanh do con chữ tạo ra  đi vào lòng người dễ dàng và sâu lắng như khi ta nghe các giai điệu trầm bổng của bài hát hoặc du dương trầm bổng, ngọt ngào, êm ái qua giọng ngâm thơ, bản nhạc…
   Ta hãy đọc mấy câu thơ của Nguyễn Du nói về nỗi lòng tương tư của Kim Trọng sau khi gặp Thúy Kiều ở hội Đạm Thanh:
253.Phòng văn hơi giá như đồng,
254.Trúc se ngọn thỏ, tơ chùng phím loan
255.Mành Tương phất phất gió đàn
256.Hương gây mùi nhớ, trà khan giọng tình
Ở đây ta thấy sự kết hợp cả súc giác (253), thị giác (254), thính giác (255), khứu giác và vị giác (256).
   Hay như câu thơ tả tiếng đàn Thúy Kiều gảy cho Kim Trọng nghe:
481.Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa
   Nguyễn Du tả quang cảnh Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đi thật ấn tượng chỉ bằng hai câu thơ:
907. Đùng đùng gió giục mây vần
Một xe trong cõi hồng trần như bay
   Nhưng tất cả những thu thập của các giác quan cũng chỉ là nguyên liệu để cuối cùng tất cả nhằm hướng tới một cái đích là mô tả, diễn tả nội tâm của con người – một món ăn tâm hồn, thông qua các giác quan mà người viết tiếp nhận được và sau khi được hình tượng hóa, biểu tượng hóa… thành các câu thơ qua chiều sâu tâm hồn, sự rung động của trái tim nhà thơ khi sáng tác để làm bật lên cái nội dung sâu xa của tư tưởng mà tác giả cần trình bày.
   Nguyễn Du với khả năng quan sát bằng các giác quan một cách tinh tế, với kinh nghiệm trường đời thâm hậu đã diễn tả một cách khéo léo, sâu sắc tâm tư, tình cảm, cõi lòng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn một mình ngồi ở lầu Ngưng Bích - Cách phân tích tâm lý nhân vật siêu đẳng đó gây cho người đọc một ấn tượng thật khó quên:
1033. Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân
Vẻ non xa, tấm trăng gần, ở chung
Bốn bề bát ngát xa trông
Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya
Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng:
“Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống hãy rày trông mai chờ!
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai?
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh, những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa
Có khi gốc tử đã vừa người ôm!”
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Buồn trông ngọn cỏ dàu dàu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh
1059. Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
   Sự biến động của đời sống xã hội và tình cảm riêng tư sẽ mở tung cánh cửa tâm hồn nhậy cảm của nhà thơ để nhà thơ đi vào thế giới của thi ca. Thơ là không gian của thế giới đa dạng muôn màu muôn sắc, kỳ ảo, huyền bí, mơ hồ… mà chỉ nhà thơ mới nhìn thấy nó và ghi lại bằng ngôn ngữ.
   Tuy nhiên có cả sáu giác quan vốn có đó của con người cũng chưa làm nên được cái gì đáng nói, đó chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ của nhà thơ và nhà bình luận là phải có kiến thức, có tâm hồn nhạy cảm, dễ rung động, chia sẻ và cảm thông với số phận và hoàn cảnh con người, có lòng yêu thương con người. Những người có tâm hồn khô cứng khó có thể làm thơ và trở thành nhà thơ. Tất nhiên người làm thơ và nhà bình luận phải có chút năng khiếu và tài năng về lĩnh vực đó.
   Để bình giải một bài thơ nhà bình luận trước hết phải thích thú và đồng cảm với bài thơ đó, tìm ra những ẩn ý còn giấu kín, bóc tách lớp vỏ mơ hồ, khó hiểu bên ngoài, để bài thơ nở ra rực rỡ và tỏa hương thơm ngát cho độc giả thưởng thức. Những bài thơ đã rõ cả rồi thì còn gì để mà bình giải nữa. Giới thiệu tập thơ và bình giải một bài thơ nói đúng sự thật và hay mới là nhà bình luận có hạng. Nếu nói quá lên quá nhiều, tập thơ nào cũng hay, bài thơ nào cũng hay, thơ hay  thơ không hay đều như nhau thì hòa cả làng rồi, giống như cả cơ quan đều đạt lao động tiên tiến, làm như vậy người bình luận sẽ tự đánh mất mình. 

                                                       Hà Nội ngày 01/11/2016