Thứ Hai, 20 tháng 1, 2020

THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU


THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU

                                                         LÊ THANH LONG

Trong Truyện Kiều nhiều lần Nguyễn Du nói đến thời gian và khoảng thời gian chỉ mốc thời gian xẩy ra các sự kiện, vậy thời gian và khoảng thời gian đó thể hiện ra như thế nào và chính xác đến mức nào?
1. Thời gian Kim Trọng về hộ tang chú
Nguyễn Du viết câu thơ rất hay mà ai cũng thích:
2747. Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Nhiều người đọc câu thơ này nghĩ rằng sau một năm Kim Trọng mới trở lại, vì câu thơ có chữ “năm ngoái”. Nhưng thực ra chữ “năm ngoái” ở đây không phải để chỉ thời gian cái năm ngoái lúc hai người gặp nhau khi hoa đào đang nở. Mà “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” là nói về bông hoa đào Thúy Kiều, lúc gió đông về, tức gió xuân về, lúc đó đang nở đẹp rực rỡ, mà bây giờ không thấy bông hoa đào ấy đâu nữa.
Khi Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về hộ tang chú, Kim Trọng nói với Thúy Kiều:
543. Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!
Ông chú không có con trai, Kim Trọng là cháu thừa tự nên phải về Liêu Dương hộ tang chú ba năm. Ở ngoài xa hàng nghìn dặm, xa nhau ba năm, không bỗng chốc mà có thể trở lại gặp nhau được, mối sầu chia ly này, gỡ cho xong còn lâu lắm đấy. Nhưng thực tế Kim Trọng về hộ tang chú, chỉ sau 6 tháng đã quay trở lại Bắc Kinh:
2741. Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
2. Kim Trọng về chịu tang chú và trở lại Bắc Kinh là vào thời điểm nào?
Kim Trọng và Thúy Kiều gặp nhau trong Hội Đạp thanh vào đầu tháng ba:
39.Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Ánh sáng mùa xuân có chín mươi ngày mà đã ngoài sáu mươi ngày là đã bước sang đầu tháng ba:
43. Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ ngày là đạp thanh
Gặp Thúy Kiều ở Hội Đạp thanh về, Kim Trọng thuê trọ ở nhà Ngô Việt thương gia được hai tháng 287. Nhẫn từ quán khách lân la/ Tuần trăng thấm thoát nay đà thêm hai, thì gặp lại Thúy Kiều, hai người hứa hẹn trăm năm và trao nhau của tin, lúc này là vào cuối xuân. Đến đầu hạ Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau ở nhà trọ của Kim Trọng:
369. Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Nhân dịp cả nhà đi dự sinh nhật bên nhà ngoại, Thúy Kiều đem theo đồ ăn sang gặp Kim Trọng:
377. Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
Hai người cắt tóc ăn thề:
447. Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Đôi trai gái gặp nhau được đúng một ngày thì Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về hộ tang chú, đó là vào đầu hạ. Sáu tháng sau Kim Trọng trở lại nhà ở Bắc Kinh, đến nhà Thúy Kiều, đó là vào đầu đông. Lúc này nhà Thúy Kiều đã là nhà hoang:
2747. Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Như vậy Kim Trọng trở lại là vào đầu đông. Đầu đông hoa đào chưa thể nở được.
3. Từ Hải chia tay thúy Kiều sau bao lâu thì quay về cưới Thúy Kiều?
Từ Hải sống với Thúy Kiều được nửa năm thì “trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” nên chia tay Thúy Kiều đi tìm sự nghiệp:
2213. Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mông,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong.
Thúy Kiều muốn đi theo, Từ Hải nói với Thúy Kiều:
2227. Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì.
Vậy có phải một năm sau Từ Hải đã quay về cưới Thúy Kiều?
Theo ý chúng tôi Từ Hải nói câu này chỉ là để động viên Thúy Kiều ở lại, chứ Từ Hải không thể dự đoán được chỉ một năm sau đã hoàn thành sự nghiệp thu phục non sông. Vậy Từ Hải đi bao lâu thì quay lại cưới Thúy Kiều. Nguyễn Du chỉ nói đến nỗi nhớ của Thúy Kiều hướng về phương trời xa xôi đăm đăm, nhớ đến “mòn con mắt” cái nơi đôi cánh chim hồng hạc đang bay bổng tuyệt vời ở phương trời sự nghiệp:
2247. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Thúy Kiều trong khi nghĩ về bố mẹ có nói một câu:
2239. Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Câu thơ này cũng chỉ cho ta biết chung chung là Thúy Kiều đi khỏi nhà đã được hơn chục năm.
Thúy Kiều nhìn thấy Từ Hải lúc trở về cưới Thúy Kiều, nhân xét:
2273. Rỡ mình lạ vẻ cân đại,
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa.
Dựa vào những câu thơ nêu ra ở trên và sự nghiệp Từ Hải đạt được, ta có thể dự đoán là Từ Hải đi rồi quay lại cũng khá lâu chứ chắc không phải một năm.
Nguyễn Du nói về sự nghiệp của Từ Hải:
2449. Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Trước mặt Hồ Tôn Hiến Thúy Kiều ca ngợi sự nghiệp của Từ Hải:
2555. Năm năm trời bể ngang tàng,
Dấn mình đi bỏ chiến trường như không.
Từ khi đi gây dựng sự nghiệp đến khi chiếm được 5 huyện thành là 5 năm.
Quãng thời gian sau khi Từ Hải giúp Thúy Kiều trả được mối thù riêng đến khi bị Hồ Tôn Hiến lừa và bị chết đứng, Nguyễn Du chỉ mô tả:
2439. Thừa cơ trúc chẻ ngói tan,
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện Thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
Từ những mô tả trên, ta không thể biết được Từ Hải đã đi bao lâu rồi quay về.
Thời gian Kiều lưu lạc là 15 năm. Từ Hải “năm năm hùng cứ một phương hải tần”. Như vậy khi Từ Hải chia tay Kiều ra đi lập nghiệp thì Kiều đã lưu lạc được trên 10 năm. Trong lời tâm sự nhớ bố mẹ Thúy Kiều nói “chốc đà mười mấy năm trời, còn ra khi đã da mồi tóc sương”. Như vậy lúc này Thúy Kiều đã lưu lạc được mười mấy năm trời rồi, suy ra Từ Hải đã ra đi được mấy năm chứ không phải 1 năm.
Trong Kim Vân Kiều truyện có nói Từ Hải tức Từ Minh Sơn đi ba năm:
“Lại nói, Thúy Kiều thấy Từ Minh Sơn đi luôn ba năm tuyệt nhiên không có tin tức gì cả. Một ngày kia bỗng có tin quân giặc kéo đến rất đông, nhân dân trong vùng đều chạy trốn hết. Bọn người nhà đều giục Thúy Kiều nên rời chỗ ở…”
“Cách ít lâu, bỗng có toán quân đông ước vài nghìn và hơn mười vị tướng, thình lình kéo đến, vây quanh ngôi nhà, rồi hô lớn:
- Vương phu nhân có ở đây không? Chúng tôi phụng mệnh Từ Minh Sơn thiên tuế đến đón phu nhân!”
4. Thúy Kiều bán mình vào lúc nào?
Thúy kiều bán mình cùng thời gian Kim Trọng về hộ tang chú và chỉ sau vài ngày hai người gặp nhau ở nhà trọ của Kim Trọng.
Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng lúc đầu hè:
369. Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngay sáng hôm sau Kim Trọng nhận được tin phải về hộ tang chú, vài ngày sau Kim Trọng lên đường về Liêu Dương:
565. Buồn trông phong cảnh quê người,
Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.
Ngay sau đó gia đình Vương Ông vướng vào lao lý và Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha:
605. Quyết tình nàng mới hạ tình:
“Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”
Mã Giám Sinh mua và cưới Thúy Kiều vào đầu hạ. Trên đường Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đi đã là mùa thu:
911. Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người.
917. Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đến lầu xanh của Tú Bà mất một tháng:
919. Những là lạ nước lạ non,
Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi
Lúc này có lẽ đã là vào giữa thu. Như vậy từ lúc Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh đến khi đến lầu xanh của Tú Bà là khoảng 4 - 5 tháng; từ đầu hạ đến khoảng giữa thu.
Sau đó Tú Bà đưa Kiều đến lầu Ngưng Bích. Thúy Kiều làm thơ nói về “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Sở Khanh nghe thấy và họa vần. Lúc này vẫn là mùa thu:
1073. Song thu đã khép cánh ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh
Sở Khanh đưa Kiều đi trốn vẫn trong mùa thu:
1119. Đêm thu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.
5. Thúc Sinh chuộc và cưới Thúy Kiều vào lúc nào?
Thúc Sinh gặp Thúy Kiều vào đầu xuân và sau đó chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh:
1283. Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!
Đôi trai gái sống với nhau được nửa năm từ đầu xuân cho đến đầu thu:
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
Giậu thu vừa nảy giò sương,
Gối yên đã thấy xuân đường tới nơi.
Thúc Ông trở lại nổi giân và đưa đơn kiện lên quan phủ. Quan phủ giảng hòa và còn làm lễ cưới cho đôi trai gái Thúc Sinh - Thúy Kiều. Như vậy là Thúc Sinh cưới Thúy Kiều vào đầu thu. Hai người sống với nhau được một năm từ đầu thu năm nay sang đầu thu năm sau thì Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả Hoạn Thư. 
6. Thúc Sinh về nhà thăm Hoạn Thư hai lần vào lúc nào?
Thúc sinh và Thúy Kiều sống với nhau từ đầu thu, qua đông, qua xuân sang đến hạ:
1473. Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh
Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thú thật với vợ cả Hoạn Thư là mình lấy vợ lẽ. Đến lúc này hai người đã cưới nhau được một năm:
1487. Mà ta suốt một năm ròng
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào.
Thúy Kiều tiễn Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vào mùa thu:
1519. Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Thúc Sinh ở nhà được một năm mà không dám nói ra với Hoạn Thư việc mình lấy vợ lẽ Thúy Kiều. Và lúc này trời đã lại sang thu:
1593. Thú quê thuần vược bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô
Lá ngô đồng đã rụng một vài chiếc lá vàng xuống cái giếng nước quý là trời đã sang thu. Hoạn Thư biết ý Thúc Sinh nhớ Thúy Kiều muốn trở về nên nhắn tin qua là đã một năm rồi cũng phải về mà chăm sóc cha già:
1599. Cách năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn
Về đến nhà ở Lâm Tri Thúc Sinh được tin Thúy Kiều đã chết. Buồn quá chỉ biết lấy câu vận mệnh mà khuây dần nỗi nhớ thương. Các mùa nối tiếp nhau trôi đi nhanh chóng:
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Một năm sau, nhớ quê hương chàng Thúc Sinh lại tìm đường thăm quê:
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê
Lúc này là vào mùa thu, nên Hoạn Thư nói câu:
1833. Khen rằng: “Hiếu tử đã nên,
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu”.
Như vậy tổng số thời gian từ khi Thúc Sinh gặp Thúy Kiều cho đến khi gặp lại Thúy Kiều ở nhà Hoạn Thư là 3 năm 6 tháng.
7. Thúy Kiều bị bắt khi nào và ở nhà Hoạn Thư bao lâu?
Ngay khi Thúc Sinh từ Vô Tích trở về Lâm Tri vào đầu thu, thì Hoạn Thư cũng về bên mẹ là Hoạn Bà trình bày kế hoạch đi bắt Thúy Kiều bằng đường Thủy:
1613. Lâm Tri đường bộ tháng chày
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
Từ Vô Tích về Lâm Tri thúc Sinh đi bằng đường bộ phải mất cả tháng, đi bằng đường biển thì gần hơn, mất ít thời gian hơn. Hoạn Thư sửa sang thuyền buồm cử Khuyển Ưng đi bắt Thúy Kiều về:
1707. Khuyển Ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Như vậy Thúy Kiều bị bắt về nhà Hoạn Bà là vào đầu thu, làm con hầu, đổi tên thành Hoa nô. Sau đó Kiều được đưa sang nhà Hoạn Thư làm con hầu.
Bốn mùa cứ nối tiếp qua đi, thời gian trôi đi nhanh chóng:
Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Thúc Sinh:
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê
Thúc Sinh gặp Thúy Kiều ở nhà Hoạn Thư và màn “ghen Hoạn Thư” nổi tiếng xẩy ra ở đây, đó là vào mùa thu nên có câu:
1834. Tẩy trần mượn chén giải phiên đêm thu
Đến lúc này Thúy Kiều đã ở nhà Hoạn Thư được một năm.
Và ngay sau đó Thúy Kiều xin được xuất gia và Hoạn Thư cho ở Quan Âm Các “giữ chùa tụng kinh”. Thúy Kiều đã ở đây được vài tháng:
1933. Sồng nâu từ trở màu thiền,
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.
Nhân lúc Hoạn Thư về nhà mẹ đẻ, Thúc Sinh lẻn đến Quan Âm Các gặp Thúy Kiều, Hoạn Thư bắt được quả tang và khi Thúy Kiều biết Hoạn Thư đã nghe hết mọi chuyện hai người nói với nhau thì kinh sợ và quyết định bỏ trốn.
Thúy Kiều trốn đến ở Chiêu Ẩn Am được khoảng ba tháng từ cuối thu cho đến đầu xuân:
2061. Cửa thiền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời
Thì bị lộ tung tích phải thú thật với sư Giác Duyên mọi chuyện. Giác Duyên sợ bị nhà Hoạn Thư biết thì nguy hiểm, nên thương hại gửi Thúy Kiều sang trốn ở nhà Bạc Bà. Như vậy Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am từ cuối thu đến đầu xuân được trên ba tháng.
Bạc Bà dọa và lừa buộc Thúy Kiều lấy Bạc sinh, rồi lừa đưa đến Châu Thai bán cho nhà hàng viện, Thúy Kiều lại rơi vào lầu xanh lần thứ hai.
Ở Châu Thai Thúy Kiều gặp Từ Hải.
Như vậy thời gian Thúy Kiều ở lầu xanh của Tú Bà và ở kĩ viện Châu Thai bao lâu thì cả Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều không nói.
Từ khi Thúy Kiều bán mình theo Mã Giám Sinh cho đến khi gieo mình xuống sông Tiền Đường là 15 năm:
2643. Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!
Thúy Kiều than trong mười lăm năm đã có không biết bao nhiêu lần bị oan khổ lưu ly
Tóm tắt lại thời gian Thúy Kiều lưu lạc trong 15 năm ấy ta biết được:
1. Thời gian từ khi bán mình lấy Mã Giám Sinh đến khi về đến lầu xanh của Tứ Bà và bị Sở Khanh lừa là khoảng 6 tháng.
2. Thời gian ở lầu xanh của Tú Bà: Không biết bao lâu.
3. Thời gian Thúc Sinh chuộc Kiều ra rồi cưới Kiều, hai người sống với nhau được 1 năm 
     6 tháng.
4. Thời gian Kiều sống một mình ở Lâm Tri chờ Thúc Sinh về quê là 1 năm.
5. Thời gian Kiều ở nhà Hoạn Bà và Hoạn Thư là 1 năm.
6. Thời gian Kiều tu ở Quan Âm Các là vài tháng (vẫn trong mùa thu).
7. Thời gian Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am là trên 3 tháng.
8. Thời gian Thúy Kiều ở kĩ viện Châu Thai: Không biết bao lâu.
9. Thời gian Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi kĩ viện Châu Thai và sống với nhau là 6 tháng.
10. Thời gian Kiều chờ Từ Hải đi tìm sự nghiệp:
       Trong Truyện Kiều Từ Hải nói là 1 năm.
       Trong Kim Vân Kiều truyện là 3 năm.
11. Tổng số thời gian Kiều chờ Từ Hải và sống với Từ Hải là 5 năm 6 tháng.
Tổng số thời gian Kiều lưu lạc ta biết được như đã liệt kê ra ở trên là 10 năm.
Còn trống hai khoảng thời gian Kiều ở lầu xanh của Tú Bà và ở kĩ viện Châu Thai. Thời gian lưu lạc của Thúy Kiều là 15 năm, vậy suy ra thời gian Kiều 2 lần ở lầu xanh là 5 năm.
Qua đây ta thấy Nguyễn Du dùng hình ảnh cây cỏ, hoa lá, chim muông, khí hậu… các mùa để chỉ thời gian và khoảng thời gian xẩy ra các sự kiện, chúng gắn liền với tâm tư tình cảm của Thúy Kiều và các nhân vật. Nguyễn Du có chủ ý mô tả rất chính xác các mùa và các mốc thời gian. Cách mô tả thời gian bằng hình ảnh các mùa làm cho người đọc hứng thú và không bị nhàm chán khi chỉ nói về thời gian một cách đơn thuần. Lấy cảnh bốn mùa để mô tả thời gian sự việc là đặc trưng riêng của thơ Kiều Nguyễn Du.
                                               Hà Nội ngày 2.12.2019
                                                             L.T.L.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020

Hai kinh đô thời Gia Tĩnh trong Truyện Kiều và kiến trúc sư trưởng người Việt Nam xây dựng Tử Cấm Thành


HAI KINH ĐÔ THỜI GIA TĨNH TRONG TRUYỆN KIỀU
VÀ KIẾN TRÚC SƯ TRƯỞNG 
NGƯỜI VIỆT NAM
XÂY DỰNG TỬ CẤM THÀNH

                                       LÊ THANH LONG

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du giới thiệu về thời gian câu chuyện xẩy ra có câu thơ:
9. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Sau đó trong lời kể của lại già họ Đô với Kim Trọng, về sự lưu lạc của Thúy Kiều, Nguyễn Du còn nói rõ kinh đô đó là Bắc Kinh trong câu thơ:
2889. “Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
             Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về,”
Có người cho rằng thời Gia Tĩnh hai kinh là Kim Lăng và Yên Kinh chứ không gọi là Nam Kinh và Bắc Kinh như sau đó và ngày nay. Không ít người còn chưa hiểu rõ, nên khi viết về Truyện Kiều cũng hay gọi hai kinh đô là Kim Lăng (Nam Kinh) và Yên Kinh (Bắc Kinh). Nói như thế chẳng hóa ra là Nguyễn Du viết sai.
Vậy hai kinh thời Gia Tĩnh, lúc sự việc xẩy ra trong Truyện Kiều, thực sự tên là gì và được xây dựng vào lúc nào?
Gia Tĩnh là niên hiệu vua Thế Tông nhà Minh (1522 - 1566). Nhà Minh (1368 - 1644). Năm 1368 Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lập ra Đại Minh, đăng quang tại phủ Ứng Thiên, đổi tên Kim Lăng thành Nam Kinh. Minh Thành Tổ (1402 - 1424) cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh, đổi tên thành Bắc Kinh. Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh được xây dựng từ năm 1406 - 1420 thì hoàn thành.
Như vậy Kim Lăng được Chu Nguyên Chương đổi tên thành Nam Kinh vào năm 1368. Còn Yên Kinh được Minh Thành Tổ đổi tên thành Bắc Kinh vào năm 1402 và xây dựng xong Tử Cấm Thành vào năm 1420.
Như vậy tên Nam Kinh (1368) và Bắc Kinh (1402) có trước cả thời Gia Tĩnh triều Minh (1502 - 1566). Nguyễn Du hoàn toàn chính xác khi nói về hai kinh là Nam Kinh và Bắc Kinh thời Gia Tĩnh.
Minh Thành Tổ mất sau khi Bắc Kinh xây xong được 4 năm. Năm 1421 hoàng đế Vĩnh Lạc chuyển vào sống trong quần thể cung điện và Bắc Kinh trở thành thủ đô mới. Từ đây, Tử Cấm Thành lần lượt được cai trị bởi 24 vị vua (giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh). Năm 1912, hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc thoái vị
Minh Thành Tổ khi lên ngôi dời kinh đô lên phía bắc, ông muốn xây dựng một Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh thật hoành tráng chưa từng có, sánh ngang trời đất, chỉ trong một thời gian ngắn. Các công trình sư bị một sức ép rất lớn về thời gian và quy mô là phải xây dựng một Tử Cấm Thành rộng lớn hoành tráng và nhanh nhất. Minh Thành Tổ muốn vua chư hầu đến Bắc Kinh nhìn thấy sự hùng tráng của Tử Cấm Thành, để tạo cho họ ấn tượng là bản thân mình thật nhỏ bé và Đại Minh thật vĩ đại. Ngày nay những người đến tham quan chiêm ngưỡng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh đều có ấn tượng, là cảm thấy mình thật nhỏ bé trước khung cảnh mênh mông rộng lớn và vĩ đại của nó.


Thành Tổ (1402 - 1424) đời Minh cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh đổi tên thành Bắc Kinh. Tử Cấm Thành Bắc Kinh được xây dựng trong 14 năm, từ năm 1406 - 1420 thì hoàn thành.
Tử Cấm Thành có diện tích là 720.000 m2, gồm 800 cung, 9999 phòng, số nhân lực xây dựng ước khoảng 1 triệu người.
Thành Bắc Kinh có lịch sử lâu đời và phong phú, nó được thành lập từ cách nay 3.000 năm, trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa vào năm 221 TCN. Bắc Kinh là thủ đô của nước Kế rồi nước Yên trong hàng thế kỷ. Nhà Đường năm 759 và nhà Nguyên năm 1215 gọi là Yên Kinh, đến nhà Minh năm 1406 gọi là Bắc Kinh.
Tử Cấm Thành được thiết kế bởi nhiều kiến trúc sư và nhà thiết kế. Các kiến trúc sư trưởng là Sái Tín, Trần Khuê, Ngô Trung và thái giám Nguyễn An (một người Việt Nam), còn các tổng công trình sư là Khoái Tường và Lục Tường.


Năm 1407, hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh sang xâm lược Việt Nam, đánh bại nhà Hồ. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc, còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn,...
Theo "Minh Sử", Nguyễn An (1381 - 1453) người vùng Hà Đông (Hà Nội, Việt Nam ngày nay) là người có công lớn trong việc xây dựng Tử Cấm Thành.
Năm Vĩnh Lạc 14 (1416) theo lệnh của Minh Thành Tổ, Nguyễn An khi ấy mới ngoài 30, đã được giao trọng trách làm kiến trúc sư trưởng xây dựng thành Bắc Kinh mới (Cố Cung). Ông cùng với các kiến trúc sư trưởng khác xây dựng Tử Cấm Thành. Hàng triệu nhân công đã làm việc trong suốt 14 năm để hoàn thành công trình phức tạp và tốn kém này. Năm 1421, hoàng đế chuyển vào sống trong quần thể cung điện và Bắc Kinh trở thành thủ đô mới.
Nguyễn An (1381-1453), còn gọi là A Lưu tên gọi ở Trung Hoakiến trúc sư thời xưa, người Việt. Ông cùng với Sái Tín, Trần Khuê, Ngô Trung là những kiến trúc sư trưởng xây dựng Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc.
Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông, nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Năm 1407, nhà Minh sang đánh bại nhà Hồ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc, còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, Nguyễn An bị bắt sang  làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh.
Nguyễn An không những tham gia xây dựng Tử Cấm Thành thời Minh Thành Tổ (1402-1424) mà còn tham gia trùng tu sửa chữa, xây mới nhiều công trình về sau này.
Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng Thành nội tức là Hoàng thành (thêm hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ, và dinh thự công sở các ty), Thành ngoại với 9 cửa kinh sư: cửa Chính Dương (có 1 chính lầu và 3 gian Nguyệt thanh lâu), và các cửa: Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng (mỗi cửa này đều có 1 chính lầu và 1 Nguyệt thanh lâu (lầu ngắm trăng)). Công việc trên được ông chỉ huy thực hiện hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh cho xây dựng và trùng tu ba điện: Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, cùng hai cung: Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 năm sau (1441) thì công việc này xong, vua nhà Minh thưởng cho Nguyễn An: 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống 10 (1445), ông lại được giao xây dựng lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt.
Nguyễn An còn xây dựng các công trình trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà
Các công trình do Nguyễn An thiết kế và xây dựng ở Trung Quốc
+ Cửa Chính Dương, còn gọi là Tiền Môn, ở phía Nam quảng trường Thiên An Môn, ngày nay vẫn còn tồn tại, là cửa chính trong 9 cửa của Ngoại thành (thành ngoài) đều do ông xây dựng năm 1437 - 1439.
+ Ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái và Cẩn Thân, được xây năm 1417 - 1420, trùng tu 1440 - 1441, đến triều đại nhà Thanh được đổi tên lần lượt thành Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa.
+ Hai cung Càn Thanh cung và Khôn Ninh cung, được xây năm 1417 - 1420, trùng tu năm 1440 - 1441.
+ Dinh thự công sở các cơ quan triều đình: phủ Tôn Nhân, Bộ LạiBộ LễBộ HộBộ BinhBộ HìnhBộ Công, Hồng Lô Tự, Khâm Thiên Giám, Viện Thái Y, Viện Hàn Lâm và Quốc Học (Quốc Tử Giám)... Trong các công trình này, nay còn lại Quốc Học tức là Thư viện Thủ đô Bắc Kinh ngày nay.
+ Thành trì Bắc Kinh thời đó có chu vi 68 dặm. Những năm Vĩnh Lạc (Minh Thành Tổ (1403-1424)) và Tuyên Ðức (Minh Tuyên Tông (1426-1435)) được xây phía ngoài bằng gạch, nhưng bên trong tường thành vẫn còn làm bằng đất, nên gặp phải khi mưa dầm lụt lội, tường thành thường hay sụp đổ. Nguyễn An xây dựng, tu sửa lại cả phía trong và phía ngoài, tường thành Bắc Kinh từ đó cao đến 3 trượng 5 thước (dưới triều nhà Minh mỗi thước dài 31,1 cm, nên 3 trượng rưỡi tức là bằng 10,885 m), nền tường thành dày 6 trượng 2 thước (19,280 m), mặt thành rộng 5 trượng (15,550 m).
Minh sử quyển 304 - Liệt truyện 192 - Hoạn quan nhất chép về ông rất ngắn (sau Trịnh Hòa, Hầu Hiển, Kim Anh, Hưng An, Phạm Hoằng, Vương Cấn), nhưng có đề cập tới việc xây dựng thành trì, cung điện, các sở quan tại Bắc Kinh cũng như trị thủy…
Năm 1453, niên hiệu Cảnh Thái thứ tư, đời vua Minh Đại Tông (Cảnh Đế) (1450 - 1456), sông Trương Thu ở Sơn Đông vỡ đê, tu sửa mãi không xong, ông lại được vua nhà Minh cử đến đó để trị thủy rồi mất ở dọc đường.
Nguyễn An là người hết lòng vì công việc, tận tụy, cần mẫn, thanh bạch, liêm khiết, trước khi mất, Nguyễn An trăn trối: đừng xây lăng mộ cho ông như những người có công thời ấy thường làm, mà nên đem toàn bộ của cải của ông góp vào quỹ công, để phát chẩn cho dân bị lụt ở Sơn Đông, những nơi ông đang đi mà chưa tới.
Nhà sử học Trương Tú Dân (Trung Quốc) đánh giá về công lao và đức độ của Nguyễn An và nỗi buồn nhân thế đối với một con người phải lưu lạc tha hương:
"Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan trăm ngàn người không được một. Còn An hết lòng vì công việc, thanh bạch, liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không có nén vàng nào trong túi, là một con người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Kinh. Nguyễn An là người kiệt xuất trong hoạn quan, công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay tên Tam Bảo thái giám, đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên nhà đại kiến trúc Nguyễn An - A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay. Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên."
Sách Thủy đông nhật ký của Diệp Thịnh đời Minh có chép: "Nguyễn An, cũng gọi là A Lưu, người Giao Chỉ, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc. Trong các công trình xây dựng thành trì Bắc Kinh và chín cửa thành lầu, hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ ở Bắc Kinh và nạo vét sông Trạch Chư ở thôn Dương, đều có nhiều công lao to lớn. Các nhân viên thuộc hạ của Nguyễn An ở Bộ Công chẳng qua chỉ là những người thừa hành phận sự, thực hiện những công trình do Nguyễn An quy hoạch, thiết kế ra đó thôi".

                              Hà Nội ngày 8.01.2020
                                    LÊ THANH LONG

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

NGHI VẤN XUNG QUANH TRUYỆN KIỀU


NGHI VẤN XUNG QUANH TRUYỆN KIỀU

                                        LÊ THANH LONG

Truyện Kiều ra đời cách nay đã hơn 200 năm, tuy vậy còn có những nghi vấn quanh nó vẫn chưa được làm sáng tỏ:
1. Có phải Nguyễn Du đã đưa “Đoạn trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích khắc in hay không?
2. Truyện Kiều được lưu hành ra bên ngoài sớm nhất vào lúc nào?
3. Truyện Kiều được khắc in sớm nhất vào lúc nào?
Nhiều tài liệu nói “Đoạn trường tân thanh” Nguyễn Du đã giao cho bạn là Phạm Quý Thích khắc in tại Hà Nội. Bản này đến nay cũng không còn hay là không có. Hiện nay mới thu thập được các bản khắc in sớm nhất là: 1. Bản Liễu Văn Đường khắc in năm 1966, 1871, 1879, 2. Bản Duy Minh Thị khắc in năm 1872, 1879. 3. Bản Thịnh Mỹ Đường khắc in năm 1879. Các bản này đều khắc in thời Tự Đức (1847 - 1883), 4. Độc bản chép tay, mỗi trang đều có minh họa, rất đẹp, ở luân Đôn, năm 1894, cũng đã được in ra năm 2016.
Tự Đức (1829 - 1883) tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thì, là vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn.
“Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh”.
Thời Minh Mạng (1820 - 1840) không tìm thấy bản khắc in Truyện Kiều nào, mà chỉ có những bản chép tay được lưu truyền.
Phạm Quý Thích (1760 - 1825), đậu tiến sĩ năm 1779, làm quan giữ chức Thiêm sai tri công phiên. Gia Long lên ngôi, ông được bổ làm đốc học, được ít lâu thì xin từ chức. Đầu đời Gia Long (1802) vời ông ra, ông từ chối không được, giữ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An Hầu, trông coi việc chép sử (1811). Ít lâu, ông cáo quan về quê. Đầu đời Minh Mạng (1821) lại vời ông ra, ông đang bệnh, lấy cớ ấy từ chối, từ đó ông chăm lo việc dạy học ở quê nhà, đào tạo được nhiều trí thức như Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan...
Phạm Quý Thích là bạn thân của danh sĩ Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem Truyện Kiều ra bình phẩm với học trò, làm bài thơ Đoạn trường tân thanh hữu cảm (thường gọi là Tổng vịnh Truyện Kiều).
Phạm Quý Thích mất sau Nguyễn Du năm năm (1820 và 1825), có lẽ ông cũng chỉ được đọc “Đoạn trường tân thanh” qua bản chép tay.
Bài thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích có tên là “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”.
Phiên âm:
Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường.
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc,
Băng tâm tự khả đối Kim lang.
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,
Tân thanh đáo để vị thùy thương?
Dịch xuôi:
Người đẹp phải đâu tới Tiền Đường
Món nợ nửa kiếp gái lầu xanh chưa được trả
Mặt ngọc sao nỡ vùi nơi đáy nước
Lòng băng tuyết tự thấy xứng đáng với chàng Kim
Nỗi đau đứt ruột trong mộng, căn duyên nay đã hết
Khúc đàn bạc mệnh chấm dứt, oán hận còn dài lâu
Một mảnh tài tình tự ngàn xưa mang lụy cho người
Cuối cùng, tiếng mới dành cho ai nỗi đau thương?
Dịch thơ:
Phải đâu gái đẹp đến Tiền Đường
Nửa kiếp lầu xanh nợ vẫn vương
Mặt ngọc sao đang vùi sóng nước
Lòng son tự thấy xứng Kim lang
Đoạn trường mộng báo căn duyên hết
Bạc mệnh đàn ngưng oán hận trường
Một mảnh tài tình muôn thuở lụy
Cuối cùng tiếng mới vị ai thương?
Những tập Truyện Kiều khắc in về sau này có bài “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” đặt ở đầu sách lại viết là “Đề từ” nên dễ lầm tưởng Phạm Quý Thích đã khắc in “Đoạn trường tân thanh”. Đề từ thực chất cũng là một bài thơ vịnh, chỉ khác ở chỗ là tên bài thơ do chính tác giả đặt để tôn vinh tác phẩm và đặt ở đầu sách.
Không biết thông tin Nguyễn Du đưa “Đoạn Trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích in là dựa vào tư liệu nào, hay chỉ dựa vào bài thơ “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” rồi phỏng đoán ra?
Phạm Quý Thích cùng thời với Nguyễn Du, mất sau Nguyễn Du 5 năm (1825), đã được đọc “Đoạn Trường Tân thanh” của Nguyễn Du. Vậy “Đoạn trường tân thanh” được lưu truyền trước khi Nguyễn Du mất hay sau khi Nguyễn Du mất?
Có lẽ thời Minh Mạng Truyện Kiều chưa được khắc in, mà chỉ được lưu truyền qua những bản chép tay. Nguyễn Du liệu có đưa tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích khi còn sống hay Phạm Quý Thích được đọc qua tủ tư liệu của triều Nguyễn thu được khi Nguyễn Du mất, hay một người nào của triều Nguyễn đưa cho?
Nguyễn Văn Thắng đậu tiến sĩ năm Minh Mạng thứ 7 (1826). Năm 1830 phải tội bị hạ ngục và soạn ra bài “Tựa Kim Vân Kiều án”, có đoạn “…Mùa đông năm Canh Dần (1830), tôi bị hạ ngục, suốt ngày ngồi ngây, không biết lấy gì để khuây khỏa. Nhân thường đọc Truyện Kiều Nôm nay cũng lĩnh hội được lời lẽ, rồi ngẫm kỹ về văn chương… “, không biết Nguyễn Văn Thắng có được bản Kiều chép tay từ lúc nào, tất nhiên là trước năm 1830.
Tại sao Nguyễn Du khi còn sống không tự khắc in tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của mình? Đây là câu hỏi rất lớn và quan trọng để giải quyết vấn đề.
Rất nhiều nghi vấn về sự ra đời của cuốn sách “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du. Bản thảo chính của Nguyễn Du không còn nữa. Từ trước đến nay người ta cho rằng bản “Đoạn trường tân thanh” mà Nguyễn Du giao cho Phạm Quý Thích khắc in tại Hàng Gai, Hà Nội đề là “Kim Vân Kiều tân truyện” nay cũng không còn.
Bản kinh là bản chép tay Đào Nguyên Phổ đã đem từ Huế về Hà Nội (1895).
Bản của Nguyễn Hưng Lập (Lâm Nọa Phu) chép tay năm 1870 ở kinh đô Huế, khi đang làm ở bộ Công dưới triều Tự Đức, gọi là bản kinh. Bản kinh không được in ra, mà chỉ được chép tay, như Đào Nguyên Phổ đã kể lại cảnh người ta “tranh nhau sao chép đễn nỗi giá giấy đắt như giấy quý Lạc Đô”. Bản kinh chép tay ở kinh đô này có khác biệt so với bản phường. Nó được vua quan triều Tự Đức nhuận sắc và để lại dấu ấn trong các bản Kiều này.
Chưa thấy công bố tìm thấy một bản khắc in nào trong thời Minh Mạng.
Trong cuốn Truyện Thúy Kiều, hai ông Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim viết: "Hiện nay tập nguyên văn của tác giả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ có hai bản khác nhau ít nhiều, là bản Phường, in ở phố Hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tôn bản triều đã chữa lại". "Bản Phường là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả. Ông hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác giả là bạn đồng thanh tương khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong, thì tác giả đưa cho ông xem. Chắc cũng sửa lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả".
Không biết ông Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim dựa trên cơ sở nào mà nói “cho nên khi quyển truyện này làm xong, thì tác giả đưa cho ông xem”, tức Nguyễn Du đưa cho Phạm Quý Thích xem, có lẽ hai ông cũng chỉ phỏng đoán vậy thôi, chắc cũng không có trong tay bản phường của Phạm Quý Thích.
Những bản Truyện Kiều khắc in có được hiện nay đều là ở thời Tự Đức, gọi là bản phường.
Hiện nay có ba bản in ở đời Tự Đức là xưa nhất (1866, 1871, 1872).
Những bản khắc in đầu tiên đều có tên là “Kim Vân Kiều tân truyện”. Bản Liễu Văn Đường khắc in năm 1866, 1871, bản Duy Minh Thị khắc in năm 1872, 1879.
Kim Vân Kiều truyện quốc ngữ Trương Vĩnh Ký in 1875 tại Sài Gòn.
Những bản khắc in sau này có tên là “Đoạn Trường tân thanh”, sau đó gọi là Truyện Kiều. Các bản in của Duy Minh Thị năm 1879, Tăng Hữu Ứng năm 1874, Abel des Michels năm 1884, Kiều Oánh Mậu năm 1902, Quan Văn Đường thời Hiền Thi Tự năm 1906, Phúc Văn Đường năm 1918, Quang tập Liễu Văn Đường 1924, Quan Văn Đường năm 1925, Truyện Thúy Kiều, Nam Phong in năm 1922.
Năm 1924 Vũ Đình Long, Phạm Quỳnh gọi là Truyện Kiều. Tên Truyện Kiều xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ 20.
Lời tựa cuốn “Đoạn trường tân thanh” của Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ (sinh năm 1860) viết năm 1898, niên hiệu Thành Thái. Nguyễn Văn Vĩnh người đầu tiên dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp, in năm 1913.
Theo Nguyễn Quảng Tuân: Việc công bố bản Kinh do Lâm Noạ Phu sao chép cũng đem lại những thông tin mới. Trong Lời Tựa, câu: Thị... xuất tự Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du Tố Như ông thủ thảo, lưu truyền ngũ (thập niên) vu tư... (Bản Kiều này xuất xứ từ chính thủ bút của Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du được lưu truyền từ 50 năm nay... đã cho ta thấy rằng đây có thể là bản được chép từ bản gốc, bản tác giả và bản này lưu truyền đã 50 năm nay (tính từ năm 1870 ngược lại đến năm 1820, năm Nguyễn Du mất).
Thực ra đoạn trích trong Lời tựa đó cũng chỉ cho ta biết thông tin “Đoạn trường tân thanh” được lưu truyền sau khi Nguyễn Du mất, đã được 50 năm.
Nguyễn Du có thật sự đưa “Đoạn trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích để in năm 1820 hay không?
Sau khi Nguyễn Du mất, triều đình nhà Nguyễn đã cử người đến tịch thu toàn bộ tư liệu của Nguyễn Du, niêm phong và đưa đi.
Sách Đại Nam thực lục chính biên cho biết: “Canh Thìn, năm Minh Mạng thứ 1 (1820), mùa thu…Vua dụ bầy tôi rằng: “Gần đây lệ khí lan tràn từ Gia Định trở ra đến Quảng Bình nhiều người ốm chết, trẫm nghe thấy rất lấy làm thương…
Hữu Tham tri Bộ Lễ là Nguyễn Du chết. Du là người Nghệ An học rộng giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì… Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa kịp đi thì chết. Vua (Minh Mạng) thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền”.
Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì..."
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời vì bệnh dịch tả.
Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì."
Nguyễn Du từng biết làm thuốc kiếm sống. Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708- 1776) cũng bị chết vì bệnh dịch tả. Năm 1776 Nguyễn Nhiễm đánh trận về bị lâm trọng bệnh dịch tả qua đời cùng với danh tướng họ Trịnh Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc.
Hơn ai hết Nguyễn Du thấu hiểu bệnh tình của mình. Nguyễn Du là người có kiến thức uyên bác lại từng là thày thuốc, ông biết chắc rằng không uống thuốc sẽ dẫn đến đâu. Vậy tại sao ông lại từ chối uống thuốc? Một con người đang trên đường thăng tiến, đang được cử đi sứ sang Trung Quốc, được trọng vọng. Cái lý do từ chối uống thuốc chắc phải lớn lao, ghê gớm đến mức nào, để Nguyễn Du phải đổi cả cuộc sống của mình để lấy cái đó. Ông bình thản đón nhận và biết việc gì sẽ tới, ông biết lịch sử cuộc đời mình sẽ sang một trang khác và tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của mình sẽ được phổ biến, lưu truyền và sẽ được khắc in sau khi mình qua đời.
Nguyễn Du chết do bệnh dịch tả thời đó đã làm chết 20 vạn người, chết do bệnh dịch không có gì đáng nói. Nhưng cái cách ra đi của Nguyễn Du bình thản, không lời trăng trối, mặc dù có con và người nhà làm quan, lại là điều khác lạ, đặc biệt, làm ta phải suy nghĩ.
Nguyễn Du biết khi mình còn sống thì “Đoạn Trường tân thanh” không thể ra đời. Nếú công bố “Đoạn trường tân thanh” ra, Nguyễn Du sẽ bị xử chết và gây thảm họa cho cả gia đình, dòng họ. Chỉ có một cách duy nhất để “Đoạn trường tân thanh” ra đời và tồn tại, được lưu truyền, là sau khi mình chết. Nguyễn Du thấu hiểu điều đó và có lẽ ông đã chọn được đúng thời điểm để ra đi. Con người kỳ lạ cũng chọn cho mình cách thức kỳ lạ ra đi để tác phẩm của mình ra đời và trường tồn. Nó như một câu chuyện tình ly kỳ lãng mạn.
Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh.
Tương truyền, vua Tự Đức là người rất mê Truyện Kiều, như mê “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng / Xếp tàn y lại để dành hơi”. Nhưng khi đọc đến câu thơ Nguyễn Du viết về Từ Hải: “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, nhà vua đập bàn quát: “Bắt ngay Nguyễn Tiên Điền vào đây cho ta, quất cho 20 roi để gã biết trên đầu còn có ai hay không?”. Quan hầu thưa: “Muôn tâu Hoàng thượng, Nguyễn Tiên Điền tịch đã khí lâu rồi thưa Hoàng thượng!”. Nhà vua không thể rút lệnh đánh roi Nguyễn Du về được, bèn phán: “Treo cái án 20 roi ta ban cho Nguyễn Du lên giữa giời, để bọn văn nhân thi sĩ đời sau nhìn thấy gương tày liếp này mà liệu liệu cái thân phận bút nghiên thấp cổ bé họng thi với phú cứ thích chơi trèo!”.
Điều này cho thấy Nguyễn Du không thể tự in hoặc phổ biến “Đoạn Trường tân thanh” ra bên ngoài khi còn sống.
Nên chăng các nhà Kiều học cần làm rõ những điều gì là chân thực của các tư liệu và cứ liệu và những gì là ngộ nhận, để chúng ta ngày càng tiến gần hơn đến sự thật.
                                               Hà Nội ngày 21.12.2019
                                                  LÊ THANH LONG