Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016

Thơ "Lục bát huyền ảo hiện đại"

Thơ
“Lục Bát huyền ảo hiện đại”

   Trong cuốn sách “Thơ ca và sự chuyển động” (Tiểu luận - Phê bình) NXB Hội Nhà văn, 2015, tác giả có bài viết nói về thơ “Lục Bát huyền ảo”, nhưng sự chuyển động và phát triển của Lục Bát không chỉ dừng lại ở đó, Lục Bát ngày nay được làm mới, ngày càng đa dạng, ngày càng được các nhà thơ chú tâm phát triển những hình thức Lục Bát mới hay hơn và đa dạng hơn. Lục Bát ngày nay không chỉ huyền ảo mà còn có ý nghĩa sâu xa hơn, có chất của thơ hiện đại, ngôn ngữ thơ hiện đại, ý nghĩa đa dạng, hình thức đa dạng. Muốn sáng tạo thì ở môi trường nào, hình thức nào, loại hình nào, thời đại nào cũng sáng tạo được, không nhất thiết phải bắt chước trào lưu của thế giới đương thời mới là sáng tạo, mới là mới và hiện đại. Tác giả tạm gọi loại hình thơ này là “Lục Bát huyền ảo hiện đại”.
   Tác giả bài viết xin trích dẫn ra đây mấy bài thơ thuộc loại này. Đầu tiên xin giới thiệu ba bài thơ của nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh hiện là Tổng biên tập Báo Đời sống và Pháp luật:
ĐƯA 
Đưa Quen về cuối con đường
Nghe hun hút gió vô thường trong tim
Đưa Thương về cuối cô miên
Tóc mưa thăm thẳm rủ trên siêu hình

Đưa Yêu về cuối yên bình
Rơi câu thơ - vỡ tan tình bâng khuâng
Đưa Đau về cuối thanh xuân
Tháng hoang mang đợi, ngày phân vân chờ.

Đưa Quên về cuối con đò
Nhờ mây trắng chở câu hò sang ngang
Đưa Thơ về cuối mênh mang
Lục bình ơi có nhớ tràng giang xưa...

Đưa Em về cuối cơn mưa
Cỏ hoang lối cũ đã thưa thớt rồi
Đưa Ta về cuối chân trời
Còn đâu những vết chân vời vợi xa... 
FACEBOOK (1)
Người về chém gió trên "phây"
Thì ta tóc xoã ngang mây cuối đèo
Tháng năm trôi, lá bay vèo
Post lên mực tím ngập chiều phố xưa...

Người về nắng tắt, mưa thưa
Những comment cắt qua mùa không tên
Nhớ nhiều thêm, để mà quên
Tuổi hoa niên héo trên thềm heo may...

Người về úa tóc, run tay
Thì ta áo trắng cũng phai bụi đời
Khát đam mê, đói chân trời
Ngàn năm khất thực những lời tram năm…
BỞI VÌ MÂY BAY
Ta chôn vực thẳm ven đời
Gieo thơ lục bát ngang trời thị phi
Nhớ là quên, đến là đi
Chắc mây vẫn trắng bởi vì mây bay

Đã nghe gió bấc lưu đày
Hanh hao tóc úa dọc ngày chớm đông 
Tỉnh là mê, sắc là không
Chốn nhân gian có nâu sồng cõi tu?

Trĩu vai một gánh sương mù
Nát tim từng giọt mưa phù vân rơi
Thấy ngày mai lững thững trôi….
    Tiếp theo dòng thơ này xin giới thiệu bài thơ của nhà thơ
Nguyễn Hữu Quý:  
Hạ thủy những giấc mơ 2
Theo cha ra biển, mở buồm
mây bay như nhớ cội nguồn về non
hải trình không dấu chân mòn
ngàn năm ngực vạm vỡ còn mặn theo.

Lời ru mẹ mắc cheo leo
gừng cay đầu sóng, muối neo lòng rừng
đói lòng ăn đọt lá mưng
gánh non sông giữ điệp trùng vẹn nguyên.

Biển Đông sóng cả, con thuyền
mái chèo cắt gió giữa miền mênh mông
đảo hoang ghé hạt lửa hồng
mọc lên ấm áp muôn vòng sinh sôi.

Làng trên sóng ngóng mưa rơi
ăn nằm kẽo kẹt mù khơi nổi chìm
mắm tôm, cà xổi, cá rim
thương nhau lục bát đi tìm ca dao.

Nhỏ nhoi đảo bão giông gào
ngọn rau mỏng mảnh nép vào trẻ trai
lặng im giọng hót đầu thai
bợc san hô nhú một vài líu lo.

Bát nhang trăm dặm xa bờ
trái cây chén nước đặt thờ tổ tiên
trùng khơi nối với đất liền
cầu mong biển lặng, trời yên xa gần…

Dậu phên làng lính, làng dân
khắc lên đảo bài thơ Thần linh thiêng
mái chùa một nét Việt riêng
hoa văn ngọn lửa thắp miền viễn khơi…
   Trong báo Văn nghệ số 11 (2016) Ngô Minh có bài Qua cầu:
Dập dềnh lục bát sang sông
giữa ngày hạ cháy mà đông se về
buồn ơi
buồn
mắt tái tê
tóc miên man
gió nhà quê
dãi dầu!

tình yêu như nước qua cầu
thôi em đừng hỏi những câu…
răng đành
em đi về phía
không anh
anh đi về phía
thác ghềnh trắng phau…!
   Xuân Diệu rất ít làm thơ lục bát, nhưng bài thơ của Xuân Diệu viết từ năm 1967 cũng rất “hiện đại”, xin giới thiệu để bạn đọc thưởng thức:
      ( Ca khúc)
Sáo vi vu thổi trong veo
Lên non là gió, qua đèo là mây;
Ngả bên dòng suối là cây;
Vương trong ánh mắt là dây tơ hồng.

Sáo ngân nga mãi bên lòng,
Vững trơ là đá, thắm hồng là son
Núi cao chót vót chon von
Anh xây, xây mãi chưa tròn tình yêu.

Sao nồng đượm biết bao nhiêu!
Mơn man với cảnh, thân yêu với người.
Quanh ta ríu rít là đời;
Bên em ai hát ai cười – là anh…
                                        27-8-1967
                                         Xuân Diệu
(Tuyển tập Xuân Diệu I – NXB Văn Học 1986)
   Hãy đọc bài thơ “Đồng chiều” khá lạ của Đỗ Vinh:
Đôi sừng đã chạm cổng làng
Chân còn bì bõm chưa sang khỏi chiều
Cái đuôi sau rốt vòng vèo
Còn vung vẩy nốt chút heo may đồng.
Không gian, thời gian, cũ và mới, truyền thống và hiện đại, thực và ảo hòa quyện trong một bức tranh chiều quê thật lạ lùng hư ảo.
   Ngôn ngữ thơ luôn luôn đổi mới và phát triển, các nhà thơ thời hiện đại sẽ sáng tạo và đưa những ngôn ngữ thơ hiện đại vào thơ Lục Bát như đã từng đưa vào thơ tự do hiện đại, nên trong tương lai có lẽ thơ Lục Bát cũng sẽ khó hiểu như thơ tự do hiện đại. Người yêu thơ ca cần làm quen với ngôn ngữ thơ hiện đại để hiểu được thơ hiện đại cũng như hiểu được “Lục Bát huyền ảo hiện đại”.
   Những nhà thơ sáng tạo thơ tự do hiện đại có thể sẽ bị cô đơn, đơn độc nhiều khi là cô độc, ngược lại những nhà thơ sáng tạo thơ Lục Bát sẽ dễ dàng đi vào lòng độc giả - người yêu thơ ca hơn. Mỗi nhà thơ có sự lựa chọn cho con đường đi của riêng mình, dù cho con đường đó có thể đầy chông gai, gian khổ và không biết được tương lai sẽ đi đến đâu và có thể là vô vọng…
   Cũng như bất cứ loại hình văn hóa nào, Lục Bát cũng phải làm mới, thay đổi để phát triển và tồn tại.
   Nhân đây xin kính tặng những nhà thơ một đời tâm huyết đổi mới thơ ca mấy câu thơ với lòng yêu mến và kính trọng chân thành:
Tóc xưa lốm đốm hai màu
Nắng vàng vẫn đổ trên đầu trang thơ
Nước ra biển, nắng vô bờ
Văn thơ chuyền động sững sờ thế gian.
                   Hà Nội ngày 27/2/2016


Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

Thơ "Lục bát huyền ảo hiện đại"

LÊ THANH LONG

Giữa Bà Nà mây bay

Trời dìu dịu, cảnh như hoa
Nước non sông núi Bà Nà nên thơ
Người tứ phương đến: ngẩn ngơ
Những ngôi biệt thự cổ sơ đây rồi.

Sao em chẳng đến cùng tôi
Để mình anh đứng giữa trời mây bay
Kìa hang rượu bao kẻ say
Chùa Linh Ứng nghiệm những ngày cầu mong.

Tình ta như áng thơ hồng
Như con sông chảy giữa lòng tình yêu
Thương bao nhiêu, nhớ bao nhiêu
Chẳng đong được hết những chiều xa nhau.

Nắng thương yêu chẳng đổi màu
Gió nhớ mong vút qua cầu không gian
Phật đi vào cõi Niết Bàn
Ta đi vào cõi bàng hoàng thương yêu.








LÊ THANH LONG

Họa mi hót trong đêm

Cũng khi ngơ ngác nhân tình
Đi tìm cái mất của mình ngẩn ngơ
Từ trong sâu thẳm tim thơ
Có dòng huyết lệ trong mồ chảy ra

Họa mi giữa một đêm hoa
Cất lên tiếng hót như là hồn ta.



Bình luận

TÌM HIỂU TRUYỆN KIỀU
KHÔNG BAO GIỜ LÀ ĐỦ

                                                   LÊ THANH LONG

  
   Người Việt Nam ai cũng yêu thích Truyện Kiều, người đọc ngày nay có kiến thức và vốn sống phong phú hơn, đông đảo độc giả mong muốn có một cuốn Truyện Kiều được chú giải đầy đủ hơn. Vừa qua Ban Văn bản Truyện Kiều của Hội Kiều học Việt Nam đã cố gắng biên soạn cho ra mắt độc giả cuốn Truyện Kiều có những chú giải đầy đủ hơn. Công việc này chắc là còn phải làm lâu dài, không thể hoàn thiện trong một sớm một chiều ngay được. Là một người yêu mến Nguyễn Du và Truyện Kiều chúng tôi xin đưa ra một số ý kiến cá nhân về cách hiểu một số câu thơ trong Truyện Kiều.
Một nền Đồng Tước
Khi Kim Trọng gặp Thúy Vân, Thúy Kiều Nguyễn Du viết:
Vẫn nghe thơm nức hương lân
Một nền Đồng Tước, khóa xuân hai Kiều
Câu thơ trên là Nguyễn Du khen Thúy Vân, Thúy Kiều.
Đồng Tước được các sách chú giải là: Đồng Tước đài hay là lầu Đồng Tước là tên một tòa lâu đài lộng lẫy do Tào Tháo nước Ngụy đời Tam quốc dựng nên ở huyện Lâm Chương, tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Tào Tháo đào sông Chương Hà, bắt được đôi chim sẻ, bèn cho xây ở gần đó một tòa lâu đài đặt tên là đài Đồng Tước (sẻ đồng) và định hễ đánh thắng Đông Ngô thì bắt hai chị em Đại Kiều và Tiểu Kiều  (là vợ Tôn Sách và vợ Chu Du) đem về đấy để vui thú cảnh già. Đỗ Mục đời Đường có câu thơ: “Đông phong bất dữ Chu lang tiện, Đồng Tước xuân thâm tỏa nhị Kiều” (Nếu gió đông không nổi lên để Chu Du được tiện mà phá quân Tào Tháo ở Xích Bích thì Tào Tháo đã bắt được hai mỹ nhân của Đông Ngô mà khóa xuân ở đài Đồng Tước rồi).
     Nhiều người đọc Truyện Kiều ít chú ý đến chữ “Nền” trong câu thơ “Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều”. Ở đây Nguyễn Du muốn nói đến “Một nền” giáo dục theo kiểu “Đồng Tước”, tức là một nền giáo dục theo kiểu “khóa xuân hai Kiều”, là nhốt Thúy Vân, Thúy Kiều trong nhà. Ý nói Thúy Vân, Thúy Kiều được giáo dục một cách nghiêm khắc theo lễ giáo phong kiến vẫn còn trong trắng nên Kim Trọng “Vẫn nghe thơm nức hương lân” – nổi tiếng các vùng lân cận.
Hoa đào năm ngoái
Câu thơ: Trước sau nào thấy bóng người (2747)
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông (2748)
Câu thơ này nói về thời điểm Kim Trọng sau khi về hộ tang thúc phụ quay lại nơi gặp Thúy Kiều tìm kiếm “trước sau” không “thấy” một “bóng người” “nào”, mà chỉ thấy “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” như trước đây (như xưa). “Cười với gió đông” là do cuối đông trời rét hoa đào không nở được phải đợi sang xuân hoa đào mới bung cánh chào xuân như cô gái mỉm cười chào tạm biệt cái giá lạnh của mùa đông. Chữ “năm ngoái” gây ra sự hiểu nhầm cho nhiều độc giả nghĩ rằng Kim Trọng sau một năm mới quay lại tìm Thúy Kiều, nhưng thực ra không phải như vậy.
Mọi ghi chú đều dẫn câu thơ của Thôi Hộ đời Dường, nhân đi chơi hội  thanh minh lạc đến một xóm trồng toàn hoa đào gọi là Đào Hoa trang và vào xin nước uống gặp một người con gái, cả hai đều cảm về tài mạo của nhau. Năm sau Thôi Hộ lại tìm đến thì chỉ thấy cửa đóng người đi đâu vắng, nhân đó làm bài thơ có câu “Nhân diện bất tri hà xứ khử, đào hoa y cựu tiếu đông phong” (Mặt người không biết đi đằng nào, hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ).
   Kim Trọng về hộ tang thúc phụ là vào đầu hạ: “Lần lần ngày gió đêm trăng/ Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua”. Màu hoa đã thưa, màu lá xanh đã dày, tức là mùa xuân đã qua sang đầu hạ. Kim Trọng trở lại tìm Thúy Kiều thì chỉ thấy “Trước sau nào thấy bóng người/ Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”, tức là Kim Trọng trở lại vào đầu đông. Kim Trọng về hộ tang  vào đầu hè và trở lại vào đầu đông, tức là vừa đúng 6 tháng. Điều này Nguyễn Du cũng đã nói rõ trong câu thơ “Từ ngày muôn dặm phù tang/ Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà”. Vậy tại sao Nguyễn Du lại viết “hoa đào năm ngoái”? Từ “năm ngoái” không phải để chỉ cái thời gian cụ thể là năm ngoái, mà “năm ngoái” ở đây là chỉ thời gian mà sự việc đã xẩy ra trước đó, chỉ hoa đào xưa, người xưa. Hoa đào vẫn còn cười với gió đông như xưa, mà hình bóng người xưa thì không còn thấy đâu nữa.
“Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”
Câu thơ Nguyễn Du nói về Từ Hải:
Giang hồ quen thú vẫy vùng (2173)
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo (2174)
Có lẽ là câu thơ gây khó cho các nhà chú giải Truyện Kiều nhất, nhiều bản Truyện Kiều không chú giải hoặc chú giải không thỏa đáng. Theo Quang Đạm “Gươm đàn” (tiếng cổ) là cái cung. Vậy “gươm đàn” là gươm cung, kiếm cung mà ta vẫn quen dùng từ cung kiếm.
Chúng tôi cho rằng “Gươm đàn nửa gánh”: Múa gươm, bắn cung chỉ là một “nửa” của cái thú giang hồ; một “nửa” của cái “gánh” trên đôi vai Từ Hải muốn gánh vác. “Non sông một chèo”: Thu phục “non sông”, một mình chèo lái “non sông” mới là mục đích chính, là cái gánh chính, một con thuyền “non sông”  đất nước, mà Từ Hải muốn một mình “một chèo” vùng vẫy, làm chủ non sông. Đó là cái chí lớn muốn làm vua của Từ Hải.
Ngậm gương hay ngậm trăng
Nguyễn Du viết Truyện Kiều cách nay 200 năm, nhưng cách dùng từ ngữ của ông hết sức độc đáo nhiều khi làm người đọc ngỡ ngàng, như câu thơ sau đây:
Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành (1092)
Thúy Kiều đợi Sở Khanh đến đón đi trốn khỏi lầu Ngưng Bích. Trời tối dần, rồi trăng nửa vành từ chân trời lên cao dần. Trước mặt Thúy Kiều có một khóm trà mi, một bông trà mi nhô cao, đến một lúc mắt Thúy Kiều, đóa trà mi và trăng nửa vành nằm trên một đường thẳng, lúc này Thúy Kiều nhìn thấy đóa trà mi nằm lọt trong “gương nửa vành”, nghĩa là “đóa trà mi” đã che khuất một phần ánh sáng của trăng nửa vành, mà Nguyễn Du gọi là “ngậm gương”, “ngậm” là che khuất, “gương” là ánh sáng của mặt trăng phản chiếu xuống trái đất. Như vậy Nguyễn Du dùng từ “ngậm gương” với nghĩa là che khuất ánh sáng của mặt trăng.
     Nhiều câu thơ trong Truyện Kiều Nguyễn Du dùng từ “ngậm gương” với ý nghĩa này, như các câu thơ sau đây:
Đêm thâu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương (1119)
Ở đây không phải Nguyễn Du dùng từ ghép “trăng ngàn” là trăng ở rừng núi, mà “trăng” đã bị “rừng” núi “ngậm gương”, Tức là “trăng” đã bị rừng núi che khuất, hay trăng đã lặn xuống dưới núi rừng.
Ngày vui ngắn chẳng đầy gang
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài
“Ác” là mặt trời. Mặt trời đã lặn xuống sau dãy núi phía tây, hay dãy núi phía tây đã che khuất ánh sáng mặt trời.
Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương (1370)
“Thỏ” là mặt trăng. Mặt trăng đã lặn xuống dưới dãy núi phía tây, hay là dãy núi phía tây đã che khuất ánh sáng của mặt trăng.
Đọc Truyện Kiều không tìm thấy chỗ nào Nguyễn Du viết là “ngậm trăng” cả. Nguyễn Du chỉ dùng chữ “ngậm”  đi với “ngậm gương”. Vì trăng là vật cụ thể, “gương” là một hình ảnh mặt trăng phản chiếu ánh sáng của mặt trời. “Ngậm gương” “ngậm” ánh sáng phản chiếu của mặt trăng. Mặt trăng ở giữa trời có cái gì có thể “ngậm” được mặt trăng. Chỉ có trái đất có thể che khuất được mặt trăng (nguyệt thực) thì cũng chỉ là “ngậm gương” mà thôi.
Thúy Kiều tắm ở đâu?
Bốn câu thơ sau đây có nhiều ý kiến chú giải khác nhau:
Buồng the phải buổi thong dong
Thang lan rủ bức trướng hồng tắm hoa
Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên
“Phòng the” ở đây có thể không phải để chỉ cái phòng the cụ thể, vì phòng the là một vật vô tri vô giác, không thể có cái buổi hay là gặp “phải buổi thong dong” được. “Phòng the” ở đây có thể là để chỉ chính Thúy Kiều gặp “phải buổi thong dong”, tức là gặp lúc rỗi việc, hoặc Thúy Kiều gặp “buổi thong dong”“phòng the”, tức là gặp lúc rỗi việc không phải “tiếp khách làng chơi”, nên đi tắm. Câu thơ tiếp theo là chỉ thứ tự công việc của người đi tắm “rủ bức trướng hồng”“thang lan” xuống và “tắm hoa”. “Tắm hoa” được chú giải chữ “hoa” là chỉ “người đẹp”. Theo tôi “tắm hoa” là tắm bằng nước có ngâm các loại “hoa” thơm. Nếu hiểu một cách đơn giản như vậy thì chữ ”thang lan” không phải là tắm bằng nước hoa lan hay nước dứa thơm và Thúy Kiều tắm ở phòng tắm chứ không phải tắm ở “phòng the” - phòng ngủ.
Lầu Ngưng Bích ở đâu?
Thúy Kiều được đưa đến Lâm Tri và bị nhốt ở lầu Ngưng Bích để “khóa xuân”, trong đoạn thơ độc thoại nói lên nỗi buồn xa quê có những câu thơ rất đáng chú ý sau đây:
Buồn trông cửa bể chiều hôm (1047)
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông gió cuốn mặt ghềnh (1053)
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Như vậy lầu Ngưng Bích nằm ở gần cửa bể, cạnh cửa sông chảy ra biển “Buồn trông cửa bể chiều hôm”, Thúy Kiều còn nghe thấy cả “tiếng sóng” “ầm ầm” “kêu quanh ghế ngồi”. Vậy “cửa bể” này nằm ở đâu? Chiết Giang lấy theo tên cũ của con sông Tiền Đường. Sông Tiền Đường chảy qua tỉnh lỵ Hàng Châu của tỉnh Chiết Giang, rồi đổ ra biển Hoa Đông, phía đông của Trung Quốc. Lầu Ngưng Bích chính là nằm ở gần cửa con sông Tiền Đường. Cửa sông Tiền Đường ở vào khoảng 120 độ kinh đông, Việt Nam ở vào khoảng 105 độ kinh đông, chênh nhau 15 độ. Như vậy trăng ở vùng lầu Ngưng Bích mọc sớm hơn trăng ở Việt Nam khoảng một giờ. Như vậy Nguyễn Du tả trăng ở Trung Quốc chứ không phải ở Việt Nam và trăng mọc vào khoảng 9 giờ tối là tương đối chính xác. Sở Khanh hẹn Thúy Kiều đi trốn vào giờ Tuất (từ 19h đến 21h). Ông Nguyễn Tường Vĩnh bẻ là Nguyễn Du sai, vì lúc đó trăng chưa mọc.  
     Truyện Kiều đã được nhiều nhà Kiều học tên tuổi nghiên cứu hàng trăm năm nay, nhưng còn nhiều vấn đề vẫn còn phải thảo luận, nghiên cứu thêm, đặc biệt là việc thống nhất những chú giải thật đầy đủ cho một cuốn Truyện Kiều là mong muốn của đông đảo bạn đọc xa gần.
                                                   Hà Nội ngày 16/6/2016

                                                       Lê Thanh Long

                                                      ĐT: 01292098772

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Thơ rồi sẽ đi về đâu?

LÊ THANH LONG

Thơ rồi sẽ đi về đâu?

   Khoa học kĩ thuật ngày nay phát triển một cách chóng mặt, kèm theo đó là sự thay đổi một cách kì diệu các phương tiện phục vụ đời sống tinh thần của con người như phim ảnh, truyền hình, thể thao… đặc biệt là điện thoại di động. Sự phát triển điện thoại di động nhanh tới mức kĩ thuật mới vừa đưa vào áp dụng trong sản xuất chưa kịp đưa ra thị trường đã bị lạc hậu. Điện thoại di động đã thay đổi một cách cơ bản đời sống tinh thần của con người trên khắp thế giới, đặc biệt là giới trẻ. Nói một cách không ngoa thế giới ngày nay nằm lọt trong lòng bàn tay, có thể biết được hầu như mọi thông tin và các chương trình giải trí chỉ bằng chiếc điện thoại di động nhỏ bé đem theo bên mình.
   Trong điều kiện đó, thơ sẽ có vị thế nào trong lòng, trong tâm hồn người hiện đại? Thơ rồi sẽ đi về đâu? Đó là câu hỏi đáng được quan tâm đặt ra cho các nhà thơ, những người yêu thơ và không dễ gì trả lời ngay được một cách thỏa đáng.
   Thường khi năm cũ sắp trôi qua, một năm mới sắp bắt đầu, cũng như gần cuối cuộc trăm năm trong cõi hồng trần, người ta thường nhìn lại, như câu thơ của Bùi Giáng: Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng/ Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng… “Tạ từ tháng Chạp”“quay nghiêng” lại nhìn về năm cũ, nhìn về quá khứ, nhìn về những sự việc đã qua… là cách người Việt Nam thường hay làm.
   Đứng ở thời điểm này, nhìn lại sự thăng trầm của các loại hình thơ Việt Nam là một ý tưởng không tồi, nhưng không dễ dàng gì. Để hình dung ra một bức tranh tổng quát, chúng ta sẽ lần lượt điểm qua sự thăng trầm của các loại hình thơ, qua các thời kì, theo thời gian.
   Trước tiên nói về thơ Đường luật. Thơ Đường luật thịnh hành ở đời nhà Đường (618 - 907) trong suốt ba trăm năm phát triển rực rỡ.
   Sự suy thoái của thơ Đường luật ở nước ta rõ rệt nhất có lẽ vào thời kì nhà Nguyễn bỏ các kì thi để tuyển chọn nhân tài, do đó thơ Đường luật không còn chỗ đứng nữa. Và ví dụ rõ rệt nhất là những người sành thơ Đường luật như Hàn Mặc Tử, Tản Đà… chuyển sang làm thơ 7 chữ, bốn câu liên hoàn và thơ lục bát. Thời kì này, thơ 7 chữ bốn câu liên hoàn, ba vần hoặc hai vần cách, phát triển rầm rộ. Và đó cũng có thể coi là thời kì cáo chung của thơ Đường luật. Đến nay thơ Đường luật vắng bóng hầu như hoàn toàn trong các ấn phẩm báo hoặc tạp chí văn nghệ. Tuy nhiên thơ Đường luật vẫn tồn tại trong lớp người cao tuổi ở các câu lạc bộ thơ Đường, nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa lâu đời. Nó cũng giống như các loại hình thơ khác có thăng, có trầm và cũng sẽ nằm trong cái quy luật tự nhiên là có sinh, có diệt khắc nghiệt của tạo hóa.
   Tiếp theo nói về thơ Tự do. Thơ Tự do có nguồn gốc từ phương Tây đã có từ rất lâu rồi. Thơ Tự do không vần ra đời thay cho thơ có vần, lấy tiêu chí mới lạ thay cho tiêu chí hay. Năm 1990 lại trở về quan điểm thơ hay. Bản thân thơ Tự do ngày nay, cũng không có gì đột biến mới và cũng đang suy thoái, do sự phát triển rực rỡ và mau lẹ của các loại hình giải trí khác hấp dẫn hơn.
   Tác giả xin trích dẫn bài viết của Trần Ngọc Cư về tình hình thi ca ở Mỹ đáng để chúng ta quan tâm (1): “…Nói ra thì thật bẽ bàng, nhưng đối với người Mỹ, dù là người ở ngoài đường phố hay là một trí thức chuyên gia, thi ca là một loại hình văn chương đang trên đường đi tới chỗ diệt vong. Nàng thơ đang vào cõi chết, nhưng chẳng mấy ai “sẵn mối động tâm”. Khó mà tưởng tượng được người Mỹ có thể sống trong một thế giới không có phim ảnh, kịch nghệ, hài, tiểu thuyết và âm nhạc; nhưng nếu phải ở trong một thế giới thiếu vắng thi ca thì họ vẫn điềm nhiên theo đuổi hạnh phúc trần thế, chẳng có gì băn khoăn thắc mắc. Sau khi rời ghế nhà trường, là nơi bị cưỡng chế phải học thơ văn, cả hàng chục năm trong cuộc đời trưởng thành của một người Mỹ chưa chắc đã có mấy ai chịu cầm lấy một tập thơ hay một bài thơ để “thưởng thức”. Họ ngại phải động não để giải mã những biểu tượng (symbols) hay sự bóng gió (allusion) rải rác trong một bài thơ”.
   “…Vào khoảng thập niên 90, Nàng Thơ coi như đã trút xong hơi thở cuối cùng trên xứ Cờ Hoa. Độc giả yêu thơ, như phần lớn người Việt ta, chắc sẽ bàng hoàng và cho đây là một phát biểu ngoa ngụy. Dẫu nói thế nào đi nữa, không ai có thể bắt người khác phải tin vào một điều gì mà không cần thực chứng. Thực chứng đó là: trong các loại hình văn học nghệ thuật hiện nay ở Mỹ, thi ca có lẽ là loại hình có số người viết vượt quá xa số người chịu bỏ thì giờ ra để đọc”.
   Bài viết đáng để chúng ta suy ngẫm.
   Bình luận và đánh giá về tình hình thơ Tự do ở Việt Nam hiện nay, xin dành cho các nhà nghiên cứu phê bình có tên tuổi làm, mà chỉ xin nêu ra một số sự việc, hiện tượng riêng lẻ. Thơ Tự do ở Việt Nam cũng chưa thấy có bước đột phá nào đáng kể. Và có những sự việc khá thú vị là có những nhà thơ tầm cỡ, nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi thể nghiệm cái mới, cái lạ trong thơ Tự do, lại nổi tiếng và được biết đến nhờ một hai bài thơ Lục bát.
   Có tập thơ được giải cao, nhưng tác giả của nó không thuộc hết một bài thơ nào của chính mình, là một điều khá kì lạ. Bản thân tác giả còn thế, thử hỏi có mấy người đọc và thuộc những bài thơ trong tập thơ ấy. Ở Việt Nam có mấy nghìn, mấy vạn nhà thơ, có hàng vạn tập thơ và tạp chí thơ, có nhà thơ nói mỗi năm chỉ đọc được khoảng hơn mười tập thơ của bạn bè.
   Thơ Tự do bây giờ rất đa dạng về nội dung và cách thể hiện và về hình thức không có một cấu trúc rõ rệt, hầu như không có một chuẩn mực nào, thường dài dòng và khó hiểu. Đến nỗi có tác giả bình một bài thơ mà chỉ dám nói đó là cảm nghĩ riêng của mình, còn người khác thì có thể có cảm nghĩ khác.
   Có người nói đại ý: Anh cứ đưa cho tôi một bài thơ Lục bát,  tôi sẽ nói cho anh biết anh đứng ở đâu? Tại sao lại là một bài thơ Lục bát, mà không phải là một bài thơ Tự do? Phải chăng thơ Lục bát có chuẩn mực rõ ràng, còn thơ Tự do thì không?! Hay là do, thơ Tự do nằm trong một phạm vi mênh mông không có giới hạn nào về nội dung và hình thức?!
   Thơ Tự do đã có từ lâu, được du nhập vào Việt Nam. Thơ Tự do không chỉ có ở phương Tây, mà có ở cả phương Đông. Thơ Tự do còn cổ và lâu đời hơn cả thơ Đường luật, thơ Lục bát… Thơ Tự do ở phương Đông có lẽ là thơ cổ thể (Cổ phong) của Trung Quốc thời xưa. Thơ Cổ phong có vần điệu, không hạn chế số chữ trong một câu, số câu trong một bài. Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán, theo dạng thơ Cổ phong, giống như thơ Tự do ngày nay. Hai câu đầu tiên trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, mặc dù viết bằng chữ Hán, khi phiên âm ra, người Việt Nam ngày nay ai cũng hiểu được:
Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
   Hai câu thơ này được Đoàn Thị Điểm diễn ra chữ Nôm, theo thể Song thất lục bát, một cách tài tình:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
   Thơ Tự do ngày nay đang được định hướng cho giới trẻ học văn và cũng đã lan sang giới già. Tuy nhiên, cũng mới chỉ trong phạm vi những người làm thơ. Không biết giới trẻ ngày nay có đọc thơ Tự do hay không?! Riêng giới già rất ít đọc thơ Tự do và không thích thơ Tự do, mặc dù có dư thời gian. Có lẽ vì thơ Tự do khó hiểu, dài dòng và không gây được ấn tượng chăng. Nói như thế, không phải phủ nhận cái hay của thơ Tự do. Thơ Tự do cũng có nhiều bài hay và trong sáng. Nhưng quả thật hiểu được thơ Tự do không dễ dàng gì và phải mất nhiều thời gian nghiền ngẫm. Có lẽ đó là điều hạn chế nhất của thơ Tự do đến với công chúng. Thơ Lục bát cũng hình tượng, biểu tượng…tại sao nó không khó hiểu như thơ Tự do? Có lẽ thơ Tự do dùng quá nhiều hình tượng, biểu tượng… và dùng quá nhiều những mỹ từ, quá nhiều những từ ngữ xa lạ với với đời sống thường ngày chăng. Vì là thơ Tự do, nên người ta quá “tự do” chăng!
   Sự định hướng vẫn là định hướng, quy luật tự nhiên vẫn là quy luật tự nhiên. Sự phát triển và tồn tại từ xưa đến nay vẫn là ở trong lòng người. Đối với người bình dân, thơ thực chất cũng chỉ được coi là một loại hình văn hóa giải trí, không có thời gian để nghiền ngẫm, ngoài ra còn đòi hỏi một tri thức tổng hợp để nắm bắt, phân tích các biểu tượng, nội hàm đằng sau những câu thơ. Người đọc cảm thấy hay và hợp với mình thì đọc chơi, không thích hợp thì bỏ qua.
   Phần còn lại dành nói về thơ truyền thống Việt Nam. Thơ truyền thống Việt Nam nằm trong một quá trình sáng tạo, phát triển lâu dài, kiên trì đầy gian khổ, tuyệt vời của cha ông ta qua nhiều thế hệ cho đến ngày nay.
   Trước tiên phải kể đến thơ Song thất lục bát. Thơ Song thất lục bát là sự lai ghép giữa thơ Đường luật và thơ Lục bát đầy sáng tạo đặc sắc của cha ông ta. Hai câu thất có nhịp 3/4, khác với thơ Đường luật có nhịp 4/3. Thơ Đường luật chỉ có cước vận (vần chân, vần ở cuối câu), còn thơ Song thất lục bát có cả cước vận và yêu vận (vần lưng, vần ở giữa câu).
   Thể thơ Song thất lục bát ra đời từ thế kỉ 15, nhưng mãi đến thế kỉ 18 mới đạt đến hình thức hoàn mỹ của nó. Thể thơ này phát triển mạnh vào thế kỉ 18 cho đến tận đầu thế kỉ 20. Thể thơ Song thất lục bát là sáng tạo tuyệt vời của cha ông ta xưa. Là một thể thơ thuần Việt, rất được các tác gia ưa dùng trong suốt thời kì trung đại ở Việt Nam. Thơ Song thất lục bát phát triển rực rỡ thời kì Đoàn Thị Điểm diễn Nôm Chinh phụ ngâm từ nguyên bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, ngoài ra còn có Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du… Tuy nhiên đến nay, trước sức tấn công như vũ bão của các loại hình giải trí với công nghê siêu hiện đại, thơ Song thất lục bát cũng đã dần lụi tàn. Số lượng tác gia sử dụng loại thơ này để sáng tác ngày càng hiếm. Thăng trầm có lẽ đó là quy luật của muôn đời.
   Loại hình thơ thứ hai phải kể đến là thơ Lục bát. Thơ Lục bát sớm nhất cũng chỉ xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng cuối thế kỉ thứ 15. Lúc đầu vần điệu của thơ Lục bát không như bây giờ, mà là chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 4 của câu bát, ngày nay người ta gọi là Lục bát cổ. Đến thế kỉ thứ 17, luật Lục bát đã hoàn thành sứ mệnh của mình, khi chữ thứ 6 của câu lục chuyển sang vần với chữ thứ 6 của câu bát.
   Đỉnh cao của thơ Lục bát là tác phấm Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du. Nguyễn Du đã chủ động phá vỡ cái khuôn hình của luật Lục bát, tạo ra một vế đối chuẩn hoặc đối cân trong cùng một câu, nhằm đa dạng nhịp điệu câu thơ. Nguyễn Du đã sáng tạo ra một “luật Lục bát mới”, ngày nay người ta đã công nhận “luật lục bát mới” này của Nguyễn Du, mà không coi là phạm luật Lục bát.
   Bên cạnh thơ Lục bát truyền thống có bề dầy lịch sử và thành quả đáng kính nể, Lục bát ngày nay vẫn đang có những sáng tạo, thay đổi, phát triển không ngừng. Đó là Lục bát vắt dòng, Lục bát chấm câu, Lục bát huyền ảo… Lục bát huyền ảo là nấc thang cao của sự phát triển thơ Lục bát.
   Thơ truyền thống bao gồm thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, Song thất lục bát, Lục bát… phát triển rực rỡ trong thời kì sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vẫn là cái mạch Thơ mới, khởi đầu từ năm 1932, nổi bật là Hàn Mặc Tử với phong cách lãng mạn, tượng trưng và siêu thực, phát triển cho đến nay và đã góp phần không nhỏ đưa hai cuộc kháng chiến trường kì oai hùng của nhân dân Việt Nam đến toàn thắng.
   Để thích nghi với thị hiếu của người đọc, cũng như thời gian ngày càng hạn hẹp, thơ truyền thống ngày càng ngắn gọn, trung bình từ 10 đến 20 câu, thậm chí rút xuống 4 câu, 2 câu, thơ tứ tuyệt ngày càng được sáng tác nhiều hơn.
   Các nhà thơ tâm huyết vẫn đang tìm cách đổi mới, làm mới thơ truyền thống. Thơ 8 chữ, nhịp 3/5 đã đem lại một nguồn sinh lực mới, cách mới thể hiện nội dung và đã mang lại những thành quả đáng khích lệ cho thơ hiện đại.
   Thơ 6 chữ là sản phẩm riêng của Việt Nam
   Thơ Đường luật không ít thì nhiều cũng là văn hóa du nhập trong thời Bắc thuộc, thơ Tự do là ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Người Việt Nam đã làm thơ, dù sử dụng thể loại thơ nào cũng đều mang cái hồn cốt Việt Nam, nhưng cách thể hiện là phải theo cái gốc, phong cách của thể loại thơ ấy. Cho nên chúng ta càng tự hào khi còn giữ lại được một nền văn hóa thơ truyền thống cho đến ngày nay.
   Chữ Nôm và chữ Quốc ngữ là minh chứng cho sự quyết tâm gìn giữ một cách xuất sắc bản chất văn hóa dân tộc đầy sáng tạo, kiên trì chống lại ảnh hưởng thôn tính của văn hóa ngoại lai.
   Mỗi dân tộc có một nền văn hóa thơ riêng, có một quan niệm riêng về cái đẹp, có một quan điểm thẩm mỹ riêng và có một cách thưởng thức nghệ thuật thơ riêng… đã thành nếp hằn sâu trong tiềm thức mỗi con người. Vì vậy người Việt Nam yêu mến, thích và hợp với thơ truyền thống dân tộc mình hơn các loại hình thơ ngoại lai khác là một điều dễ hiểu. Dân Việt Nam ai cũng thích Truyện Kiều với những vần thơ Lục bát uyển chuyển, điêu luyện là minh chứng rõ nhất cho điều này.
   Nói gì thì nói, làm gì thì làm, nhưng không thể không chú ý đến các loại hình thơ thuộc văn hóa truyền thống dân tộc.
   Nói, ngày nay các loại hình giải trí hiện đại lấn át loại hình thơ, có lẽ chỉ đúng một phần. Thơ của chúng ta đang ngày càng xa dần tiêu chí phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân. Sự tồn tại của các loại hình giải trí là để phục vụ đời sống con người, cái gì xa cách với đời sống con người, không phục vụ thiết thực cho đời sống quảng đại quần chúng nhân dân, không đi được vào lòng người, sớm muộn gì cũng sẽ bị quy luật tự nhiên đào thải. Cái cũ mất đi là để cho cái mới ra đời. Mà ở ta, loại hình thơ mới thì vẫn chưa ra đời, vẫn còn loay hoay với sự thay đổi về hình thức và cách thức thể hiện. Dù cho các loại hình thơ có khác nhau đi nữa, thì đều cùng hướng tới một nội dung nhất định nào đó, một mục đích nhất định nào đó mà thôi.
   Thơ rồi sẽ đi về đâu?! Trong thời đại con người ngày càng có ít thời gian và coi thơ cũng chỉ như một loại hình giải trí và đang bị các loại hình giải trí khác phát triển như vũ bão lấn át. Để tồn tại, thích nghi và đi được vào lòng công chúng thời hiện đại, có lẽ thơ nên quay lại với các tiêu chí trong sáng, dễ hiểu, lạ và hay phục vụ con người, chứ không phải với mục đích phục vụ mình, nếu thơ không muốn dần đi tới chỗ tự đóng băng mình. Mỗi thời đại con người có những đòi hỏi riêng, có những thú vui riêng của thời đại đó.
----------------------
(1)Trần Ngọc Cư, Thi ca Mỹ sau thời độc sáng, Văn nghệ, số 31 (ngày 2-8-2014), tr.16.
---------------------


LÊ THANH LONG


Nàng Thơ bỏ đi













Em đừng đi,
hỡi nàng Thơ!
Trăng vàng
đang rải bên bờ cát xinh
Gió
còn thức suốt năm canh
Người còn mơ mộng,
ngày xanh chưa tàn.

Nàng đừng
bỏ chốn nhân gian
Về nơi cô quạnh,
mà oan tiếng đời!
Đừng về
xây mộng cùng trời
Rưng rưng,
nhìn ánh trăng cười,
bỏ đi.

Xuân về ủ mộng tương tri
Trăm năm rồi cũng
còn gì nữa đâu!
Dõi theo
phong nguyệt bạc đầu
Sang xuân
kiếm một cơi trầu,
đi em!

Em đừng
kéo rủ màn đêm
Buông câu hờ hững,
mà nhen lạnh lùng
Ngày xưa
phong nguyệt tưng bừng
Mà nay
em bỏ giữa chừng,
em đi!

Xuân còn,
hồn chẳng còn chi
Đêm xuân tỉnh giấc,
thấy gì nữa đâu!
Một vầng trăng lạnh
ngang đầu
Hoang mang,
nước chảy qua cầu nhân gian.



Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

Truyện Kiều - Những bình giải

TRUYỆN KIỀU –
Những bình giải

Tác giả: Lê Thanh Long
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014, 224 trang.


Lời giới thiệu

   Rượu ngon phải có bạn hiền cùng uống, thơ hay phải có bạn thơ cùng bình phẩm, trận bóng đá hay phải có đông bạn bè cùng xem. Đọc thơ mà không có bạn thơ cùng trao đổi thì chẳng khác gì ngồi uống rượu một thân, xem bóng đá một mình.
   Sách “Truyện Kiều – Những bình giải” của Lê Thanh Long là Người bạn thơ cùng giao lưu với chúng ta khi đọc Truyện Kiều, một thi phẩm nói mãi cũng không hết, bình giải mãi cũng không cạn. Để không bị lạc vào việc bình giải riêng rẽ từng từ, từng câu thơ như cách chú giải theo thông lệ ở các sách Truyện Kiều, Lê Thanh Long chọn ra 35 chủ đề để bình giải. Đó là những chủ đề nóng, vì thường có những cách bình giải khác nhau, theo những cảm nhận khác nhau. Đọc Truyện Kiều – Những bình giải ta thấy tác giả như trải lòng mình trên từng câu, từng từ trong thơ Kiều, như muốn hòa mình sống với các nhân vật của một xã hội bi thương cách xa chúng ta hàng trăm năm về thời gian, nhưng lại gần gũi về cảnh ngộ, để cảm nhận những ý thơ trong các từ, các câu của Nguyễn Du khi bình giải.
   Là nhà thơ, Lê Thanh Long có những cảm nhận tinh tế, sinh động, song ở góc độ là nhà khoa học, Lê Thanh Long lại có cách bình giải logic, hợp lý, chặt chẽ, có tính hệ thống trước sau của Kiều học , khoa học nghiên cứu Truyện Kiều.
   Có thể ở đâu đó trong các đoạn bình giải có những cái mới, khác lạ chưa dễ được ai đó chấp nhận, do những cảm nhận khác nhau về thơ Kiều, song chính những cái mới, cái khác lạ ấy đã đưa đến cho sách Truyện Kiều – Những bình giải sự hấp dẫn và chú ý.
   Hy vọng sách Truyện Kiều – Những bình giải của Lê Thanh Long sẽ đưa đến cho bạn đọc những giây phút ngạc nhiên và thú vị như tác giả mong muốn.
TS. Phan Tử Phùng
Phó Chủ Tịch

Hội Kiều học Việt Nam

Bạn đọc muốn tìm hiểu xin liên hệ: 
Lê Thanh Long, số điện thoại 01292098772



                                   LÊ THANH LONG                                             


Mấy lời cùng bạn đọc

     Truyện Kiều của Nguyễn Du đã có hàng trăm nhà Kiều học có học vị cao, có tên tuổi nghiên cứu, hiệu đính, bình giải, bình luận… trong hàng trăm năm nay như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Nguyễn Tường Vĩnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Can Mộng, Vân Hạc Lê Văn Hòe, Tản Đà, Phan Ngọc, Nguyễn Thạch Giang,Vũ Ngọc Khánh, Lê Văn Hoàn… và nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi khác đã tạo ra một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu có giá trị. Tuy vậy, có nhiều vấn đề, nhiều câu chữ…  trong Truyện Kiều vẫn còn tranh cãi, còn phải bàn bạc… cho đến tận bây giờ còn chưa ngã ngũ. Thế mới biết Truyện Kiều hay và sâu sắc đến nhường nào!
    Từ ngữ trong Truyện Kiều là những viên ngọc quý lấp lánh nhiều màu sắc. Hiểu thật thấu đáo, thật sâu sắc, thật chính xác chữ nghĩa Truyện Kiều không phải là điều dễ dàng.
    Nói khác với những “cây đa, cây đề” về Kiều học như Đào Duy Anh, Lê Văn Hòe… và hàng trăm nhà Kiều học tên tuổi là một việc làm không dễ dàng gì, nhưng để giải đáp được những câu thơ khó, cần phải có cách tiếp cận mới, hướng giải quyết khác, mới mong  tìm ra điều gì đó còn ẩn giấu.
Tìm hiểu ý nghĩa từng câu, từng chữ trong Truyện Kiều, cho đúng với thâm ý của Nguyễn Du là một việc làm cực kỳ khó khăn, nhưng rất thú vị, để cho độc giả hiểu một cách sâu sắc thấu đáo Truyện Kiều
   Tìm hiểu ý nghĩa từng câu thơ trong Truyện Kiều là phải theo đúng nguyên bản (theo các bản hiện có). Ta không nên thay đổi văn bản khi bình giải, dù đó có thể là hay hơn, dễ hiểu hơn nguyên bản, nhưng đó không phải là thơ của Nguyễn Du. Vì vậy khi bình luận chúng tôi bám sát văn bản hiện hành, tất nhiên là chọn những văn bản chúng tôi cho là hợp lí, vì chưa có một văn bản nào chính thức được thừa nhận và cũng chưa tìm thấy bản gốc ban đầu của cuốn “Đoạn trường tân thanh”.
   GS. Hà Minh Đức cho rằng trong đổi mới hiện nay, cái quý nhất là những tác phẩm có giá trị đỉnh cao. Hiện nay có khuynh hướng làm mới cái cũ, có người đã làm mới Truyện Kiều bằng cách thay chữa câu chữ của Nguyễn Du. Cách làm đó rất đáng phê phán (Phát biểu tại hội thảo khoa học quốc gia”Phát triển văn học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế”, 15.5.2014)
   Tác giả chỉ tập trung vào một số câu thơ, mà những bình giải trước đây còn chưa làm thỏa mãn người đọc và những câu thơ chưa được bình giải, hoặc bình giải chưa được cặn kẽ.
Tác giả đặc biệt chú ý đến phong cách dùng từ ngữ
khác lạ của Nguyễn Du so với cách dùng từ ngữ thông thường từ trước đến nay ta vẫn hiểu, xem xét một cách thận trọng, để có thể đưa ra những bình giải hợp lí.
   Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đứng trên những góc độ, những quan điểm chính trị khác nhau phân tích, phê phán Truyện Kiều. Tác giả đứng trên quan điểm, góc độ của Nguyễn Du thời đó, đặt mình vào vị trí của Nguyễn Du và xã hội thời Nguyễn Du để lý  giải sự việc, để nghiên cứu, đánh giá, phê bình, nhận xét, nhằm làm sáng rõ thêm Truyện Kiều, chứ không phê phán hay đứng trên góc độ kiến thức ngày nay để đánh giá.
Những bình giải, nhận xét bám sát vào chính những câu thơ trong Truyện Kiều, để tự bản thân câu thơ của Nguyễn Du nói lên những điều Nguyễn Du muốn nói.
   Tất cả những người say mê nghiên cứu Truyện Kiều, dù ý kiến đúng hay còn chưa đúng, đều rất đáng trân trọng. Người làm thơ không đọc Truyện Kiều, hoặc không nghiên cứu kỹ Truyện Kiều là một thiệt thòi lớn.
Những vần thơ tuyệt diệu làm nên thành công của Truyện Kiều, là thành quả của sự tích lũy kiến thức và kinh nghiệm cả đời cũng như thiên tài trời phú của thi hào Nguyễn Du.
   Truyện Kiều ca ngợi giá trị của cuộc sống con người, ca ngợi hạnh phúc có thực và phải đấu tranh để giành lấy hạnh phúc. Nó là tiếng nói chống lại bất công, áp bức, ca ngợi sự thủy chung, cái đẹp, cái thiện. Nó cũng cho thấy sự nghèo khổ, sự may rủi, sự buồn chán, sự tàn nhẫn, sự lừa lọc, sự đố kỵ… của con người là có thực và luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống.
    Bạn đọc sẽ có những phút giây ngạc nhiên thú vị và không phải mất nhiều thời gian mà vẫn tìm hiểu được Truyện Kiều một cách đầy đủ, thấu đáo và sâu sắc.








Xuân và cuộc đời, Nguyễn Du và Truyện Kiều

LÊ THANH LONG

Xuân và cuộc đời


Liễu buồn
xõa tóc
chờ thu
Lá bàng xanh
thức
để ru cõi tình
Cuối đông
sẽ cựa mình
Kìa
đôi mắt lá
em xinh nở bừng

Hoa
còn tung tẩy chưa dừng
Mà xuân như đã
ngập ngừng sang ngang
Đời
như một ngọn gió  hoang
Xuân thì như sóng
mở ngàn cánh bay

Xuân mang
bóng đổ xuống ngày
Tình
như nước chảy,
sao đầy được sông
Xuân đi
chầm chậm trong lòng
Trời xuân hé mở,
thinh không trong ngần

Tình
như quầng sáng Thiên Thần
Đứng nhìn thì đẹp,
đến gần lại tan.

Sóng tình
trôi
giữa nhân gian
Nhẹ như gió thoảng,
nặng ngàn vạn cân
Xuân ai
rồi cũng một lần
Mặn chua mấy cuộc phong trần
nhớ quên!


LÊ THANH LONG


Nguyễn Du và Truyện Kiều

Ông ngồi bút mực cầm tay
Ngước xem thời thế đổi thay nhường nào
Đường thơ mài sắc hơn dao
Ba đào nhân thế thấm vào thẳm sâu

Phong trần phủ trắng mái đầu
Khúc Kiều nối nhịp cây cầu thiên thu
Trăm năm gió cuốn Tố Như
Bánh xe thế sự cuốn mù mịt bay

Để đời một áng thơ hay
Hai trăm năm lẻ còn say lòng người
Tố Như ơi! Khóc lẽ đời
Khúc đàn “bạc mệnh” ngậm ngùi thế gian

Kiếp người chìm nổi, hợp tan
Câu thơ nhỏ máu, nỗi oan nàng Kiều
Trăm người yêu, chẳng được yêu
Lênh đênh một cánh đò chiều, lênh đênh

Phận người giữa chốn xông xênh
Một đời mắc nợ duyên tình đớn đau
Một thiên tình sử nát nhàu
Thiên thu còn động nỗi sầu nhân gian.