Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Nét son ở đời


LÊ THANH LONG                                                               







Nét son ở đời


Có lần chạm ánh mắt em
Mới hay gió núi cũng thèm trời xanh
Có lần chạm cõi mong manh
Mới hay chữ nghĩa là dành trăng sao

Xòe tay lỡ chạm nụ đào
Mới hay tình cũng ngọt ngào đa đoan
Một lần sống ở thế gian
Đất nuôi ước vọng, trời ban cánh thần

Đời là một ánh nắng xuân
Hay là đêm tối, cũng gần nhau thôi!
Ta làm hạt đất sinh sôi
Còn hơn quả núi trơ ngồi cô đơn

Cái gì mất, cái gì còn
Cũng là vẽ một nét son ở đời
Nhìn ra cái lẽ làm người
Rồi tan vào đất, nói lời của mây!

Lẽ trời búng sẵn con quay
Buồn vui trả lại, cải bay về trời*
                            
* Gió đưa câu cải về trời
                             (Ca dao)

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

Nghi vấn văn chương về tác giả dịch Nôm Chinh phụ ngâm


LÊ THANH LONG


Nghi vấn văn chương
về tác giả dịch Nôm Chinh phụ ngâm


      Có lẽ, Vũ Hoạt là người đưa ra vấn đề dịch giả cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm. Trong bài tựa cuốn Chinh phụ ngâm khúc in năm 1902, Vũ Hoạt viết: “ Nhớ xưa, Đặng Tiên sinh làm ra sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm”. Từ đó, mọi người vẫn đinh ninh là bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm.
      Sau đó, Thuần Phong Ngô Văn Phát, giáo sư Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam học sử yếu” và Nguyễn Đỗ Mục trong “ Chinh phụ ngâm dẫn giải”, Đặng Thái Mai (1950) cũng khẳng định bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm.
      Đột nhiên, vấn đề dịch giả của bản Chinh phụ ngâm hiện hành được các học giả, nhà nghiên cứu… quan tâm lật lại vấn đề là vào năm 1926.
     Nguyên do là báo Nam Phong số ra 106 tháng 6 năm 1926 có đăng một bài nhan đề “Phan Dụ Am tiên sinh văn tập” của ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Trong bài đó, tác giả viết: “Chinh phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà Điểm diễn Nôm, dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?’
      Bài báo trên ra đời, do ông Phan Huy Chiêm, chắt 5 đời của tiến sĩ Phan Huy Ích có viết cho Đông Châu Nguyễn Văn Tiến một bức thư nói rằng, theo tộc phả họ Phan Huy , cùng lời các bô lão trong họ truyền lại, thì bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là do Phan Huy Ích “diễn ra văn Nôm, hiện giờ (1926) còn giữ đượng bản chính vừa chữ, vừa Nôm”. Ông Chiêm còn đưa ra bài thơ chữ Hán, Phan Huy Ích làm, sau khi hoàn thành bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc, đó là bài “Ngẫu thuật”. Tuy nhiên ông chỉ gửi bài thơ “Ngẫu thuật” làm, sau khi dịch xong Chinh phụ ngâm, chứ không đưa ra được bản Chinh phụ ngâm vừa chữ Hán, vừa chữ Nôm như đã nêu.
      Sau đây là nguyên văn bài thơ “Ngẫu thuật”:
Ngẫu thuật
Nhân Mục tiên sinh “Chinh phụ ngâm”,
Cao tình dật diệu bá từ lâm.
Cận lai khoái trá tương truyền tụng,
Đa vĩ thôi xao vi diễn âm.
Vận luật hạt cùng văn mạch túy,
Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm.
Nhà trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tin suy minh tác giả tâm.
                                   ( Phan Huy Ích)
Dịch nghĩa:
Bài Chinh phụ ngâm của Đặng tiên sinh người làng      
                                                              Nhân Mục,
Tình cao điệu lạ đã được truyền bá khắp rừng văn.
Gần đây mọi người truyền tụng lấy làm thích thú lắm,
Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm.
Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được
                                cái tinh túy trong mạch văn,
Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc
                                         mà diễn ra thì mới được.
Nay nhân buổi nhàn hạ, ta dịch ra thành khúc mới
                                                            (tân khúc),
Chắc tin rằng đã suy minh được lòng tác giả.
      Năm 1943, ông Hoa Bằng trong bài “Dịch phẩm Chinh phụ ngâm phải chăng của bà Đoàn Thị Điểm?” đăng trong tạp chí Tri tân, số 113, dựa trên ba tài liệu chủ yếu (Lịch Triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục và Đoàn thị thực lục), cũng chỉ đưa đến xác nhận Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đều có dịch Chinh phụ ngâm khúc. Còn bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của ai, thì không giải quyết được.
      Năm 1944 Trúc Khê về nhà họ Đoàn, tìm trong bộ Đoàn thị thực lục – Gia phả của họ Đoàn, không tìm thấy thông tin bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm. Ông viết: “Bản Chinh phụ ngâm khúc có thể không phải của bà Đoàn Thị Điểm” (Trúc Khê: Những tài liệu mới về Đoàn Thị Điểm, Tiểu thuyết thứ bảy, 9 – 1944).
      Đến năm 1953, trong cuốn “Chinh phụ ngâm bị khảo”, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã sưu tầm được 4 bản dịch Chinh phụ ngâm khúc, được sắp xếp đánh dấu theo thứ tự A, B, C, D.
      Bản A, là bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu
1902.AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại thư viện Paris).
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn khẳng định:
      Bản A, bản chinh phụ ngâm khúc hiện hành, là của Phan Huy Ích.
      Bản B là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có ghi hai chữ “nữ giới”, ý nói là do đàn bà diễn ca (tr.27).
      Bản C, bản của Nguyễn Khản.
      Bản D, không biết là do ai dịch. Bản này chỉ là một bản đã phiên âm ra quốc ngữ, lời văn kém hơn các bản kia.
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng, bản B là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có hai chữ “nữ giới”, ý nói đó là do đàn bà diễn ca, là không đủ sức thuyết phục.
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Cang dựa trên cơ sở con cháu họ Phan nhớ thuộc lòng Chinh phụ ngâm, đọc thuộc lòng được bản Chinh phụ ngâm gần giống với bản hiện hành, cũng không có sức thuyết phục. Vì con cháu họ Phan bây giờ đã sống rất xa thời Phan Huy Ích (đã 200 năm rồi) và ở Việt Nam thiếu gì người thuộc lòng Chinh phụ ngâm.
       Có ý kiến cho rằng bà Đoàn Thị Điểm là người đầu tiên dịch nôm tác phẩm này với thể song thất lục bát, văn chương rất điêu luyện. Bản dịch của Phan Huy Ích ra đời muộn hơn đến 45 năm, cũng dùng chính thể thơ đó và chịu ảnh hưởng rất nhiều của bản dịch trước. Có thể nói Phan Huy Ích đã nhuận sắc lại bản dịch trước kia của Đoàn Thị Điểm, vì vậy mà bản
dịch của ông hoàn hảo hơn. Thực ra, ý kiến này cũng chỉ là suy luận đơn thuần, mới nghe có vể có lý, nhưng xét kỹ cũng không có cơ sở.
      GS Nguyễn Lộc cũng cho rằng bản dịch Chinh phụ ngâm đầu tiên là của Đoàn Thị Điểm.
     Năm 1972, giáo sư Nguyễn Văn Xuân tìm được ở Huế bản Nôm “Tân san Chinh phụ ngâm diễn Nôm từ khúc”, ấn hành từ năm Gia Long 14 (1815). Bản Nôm này cơ bản phù hợp với bản mà giáo sư Hoàng Nguyên Hãn cho là của Phan Huy Ích, cũng có nghĩa là phù hợp với bản nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang đã ghi được ở Sài Sơn từ hậu duệ của Phan Huy Ích. Đáng chú ý trong đó có bài tựa của Nhà xuất bản “Chính Trực đường” và đặc biệt có bài nguyên tựa của dịch giả Phan Huy Ích. Giáo sư Nguyễn Văn Xuân xác quyết “ Dịch giả đích thực của cuốn sách là tiến sĩ Phan Huy Ích, với tên sách đầy đủ là “ Tân san Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc”.
      Đến đây, tưởng rằng đã rõ, có thể kết thúc một nghi vấn văn chương đã kéo dài một thế kỷ, vì đã “nói có sách, mach có chứng”. Nhưng tại sao vẫn chưa kết thúc được? Có lẽ, các nhà nghiên cứu, khảo luận vẫn chưa tin tưởng, ngay cả bài nguyên tựa của dịch giả Phan Huy Ích, coi đó cũng chỉ giống như bài tựa của Vũ Hoạt năm 1902, cho rằng Chinh phụ ngâm là của Đoàn Thị Điểm chăng?
      Đến nay, các nhà nghiên cứu, giảng dạy môn văn trong nhà trường như Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn… vẫn coi Đoàn Thị Điểm là tác giả bản diễn Nôm thông dụng hiện hành.
      Còn các ông Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Cang, Nguyễn Văn Xuân… thì cho là bản Chinh phụ ngâm thông dụng hiện hành là của Phan Huy Ích.
      Theo ý kiến chúng tôi, có thể không cần đi đâu xa, ta có thể tìm thấy sự thật cho câu trả lời, ngay trong hai bản A và bản B. Để xác định bản nào là của Đoàn Thị Điểm, bản nào là của Phan Huy Ích, có thể dựa trên hai tiêu chí:
1.     Thứ nhất dựa trên quan điểm về dịch thuật.
2.     Thứ hai dựa trên chất nữ tính và nam tính trong từng câu, từng chữ của hai bản dịch.
      Đọc hai bản dịch A và B, ai cũng phải công nhận bản A dịch hay hơn bản B.
      Bản A văn phong thanh thoát, vần điệu hết sức chỉnh, ta có cảm giác dịch giả có thể bỏ ý mà không buông vần điệu, nên người đọc có cảm giác du dương, êm đềm mê đắm, ngay cả khi không hiểu hết từ ngữ chữ Hán và ý thơ. Dịch giả hết sức lưu tâm đến từng câu, từng từ… Câu thơ dịch mà tự nhiên, không bị gò ép, có hình thức nghệ thuật cao, đậm đặc chất thơ. Ta có cảm giác thơ dịch mà như thơ sáng tác, câu chữ phóng túng, cảm xúc dâng trào. Chính điều này đưa ta đến một nhận xét bản A hàm chứa tình cảm của người dịch nhiều hơn hẳn bản B. Bản A mang đậm sắc thái nữ tính, nỗi lòng người chinh phụ gần với người phụ nữ hơn, chỉ có thể là phụ nữ mới viết được như vậy. Điểm đặc biệt nữa, là có lẽ người dịch cũng có tâm trạng như người chinh phụ xa chồng, mà gửi tình cảm đó vào trong văn cảnh. Có thể bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm trong thời gian ông Nguyễn Kiều, chồng bà, đi sứ sang Trung Quốc. Cái tâm trạng xa chồng của bà chẳng khác gì người chinh phụ, nhất là khi bà lấy ông Nguyễn Kiều chưa được bao lâu, thì ông đã phải nhận lệnh đi sứ sang Trung Quốc.
      Trong khi đó, bản B truyền tải được nhiều ý của nguyên bản, giống ý của nguyên bản hơn bản A, thậm chí giống từng chữ, từng lời, vì vậy bị gò bó, không được thanh thoát. Còn bản A dịch phóng túng hơn, không lệ thuộc quá vào nguyên bản, sáng tạo những từ mới khác với nguyên bản, và thậm chí có những từ ngữ còn hay hơn nguyên bản.
      Có một điều đặc biệt, mà các nhà nghiên cứu, khảo luận… chưa thấy đề cập tới. Đó là trong bài “Ngẫu thuật” Phan Huy Ích có viết: “Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm”, dịch nghĩa là: Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc mà diễn ra thì mới được. Như vậy, theo Phan Huy Ích khi dịch phải chia thành từng chương tiết. So sánh với bản B, ta thấy bản B đúng là có chia thành các chương tiết cẩn thận (13 chương và nhiều tiểu tiết).
      Câu thứ 5 trong bài “Ngẫu thuật” có câu: “Vận luật hạt cùng văn mạch túy”. Điều này chứng minh được một điều quan trọng, là bản B có thể là của Phan Huy Ích, dịch nghĩa là: nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạch văn. Có nghĩa là, ông Phan Huy Ích chê những người dịch trước quá nặng về âm luật, câu chữ chải chuốt, mà không dịch hết được ý của nguyên bản. Vì vậy trong khi dịch ông theo sát nguyên bản, không quá câu nệ vào vần điệu, chữ nghĩa. So sánh hai bản A và bản B, ta thấy bản B theo sát nguyên bản hơn bản A.
      Từ hai ví dụ nêu ra ở trên, ta có thể đi đến một ý kiến gợi ý, là bản B có thể là bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích.
     Để làm sáng tỏ thêm, sau đây chúng tôi xin dẫn ra một số câu ở hai bản A và bản B, để so sánh xem bản nào dịch sát, gần với nguyên bản hơn:
1.Sứ tinh thiên môn, thôi hiểu phát,
Hành nhân trọng pháp, khinh biệt ly.
Sứ trời sớm giục đường mây, (bản A)
Phép công là trọng, niềm tây sá nào?
Sứ tinh sớm giục lên đường (bản B)
Người đi sợ phép, xem thường biệt ly.
Bản B gần như là chuyển dịch từng chữ trong nguyên bản sang, ý văn thể hiện quan điểm, suy nghĩ của đàn ông. Còn bản A, dịch rất thoáng, không sử dụng lại các chữ như trong nguyên bản, có nội tâm và quan điểm của người dịch là phụ nữ.
       Các câu sau đây cũng có nội dung tương tự:
2.Lương nhân nhị thập Ngô môn hào,
Đầu bút nghiễn hề sự binh đao.
Chàng tuổi trẻ, vốn dòng hào kiệt, (bản A)
Xếp bút nghiên, theo việc đao cung.
Chàng hai mươi tuổi, cửa Ngô (bản B)
Gác bồ nghiên bút, giở đồ cung đao.
3.Dục bả liên thành hiến minh thánh,
Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiều.
Thành liền mong tiến bệ rồng, (bản A)
Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời.
Đem thành liền ngưỡng trao Minh thánh, (bản B)
Xin tấc gươm dẹp lĩnh Thiên kiêu.
      Tiếp theo, chúng tôi xin dẫn ra một số câu để so sánh chất nữ tính và chất nam tính của hai bản A và bản B:
1.Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,(bản A)
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Trời đất thuở gió bay, bụi nổi (bản B)
Khách hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.
Hai câu này, hai bản dịch có nội dung và câu chữ tương tự, chứng tỏ ông Phan Huy Ích trước khi dịch có đọc bản A, như lời ông nói trong bài thơ “Ngẫu thuật”: “Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm”. Nhưng hai câu thơ ở hai bản có khác nhau một chữ quan trọng: Khách má hồng (bản A) và khách hồng nhan (bản B). Ông Nguyễn Thạch Giang đã phân tích rất rõ và cho rằng: Trong quan niệm của nhân dân ta “má hồng” và “hồng nhan”có chỗ khác nhau rất rõ. Hai tiếng này không bao giờ lẫn lộn được. “Hồng nhan” nghe như có cái gì khinh bạc, rẻ rúng ở bên trong. “Hồng nhan” bao giờ cũng đi đôi với “bạc mệnh”. Như vậy, rõ ràng là khi dịch chữ “má hồng” người dịch rất có ý thức về giới phụ nữ và rất từng trải, thể hiện mối thông cảm sâu sắc về thân phận người phụ nữ. Còn người dịch chữ “hồng nhan” (bản B), là quan niệm của người đàn ông, quen xem nhẹ đàn bà, bàng quan trước mọi tâm tư tủi nhục của họ trong xã hội cũ. Sự lý thú ở đây còn ở chỗ, ở bản C  mà GS. Hoàng Xuân Hãn cho là của Nguyễn Khản cũng dịch chữ “hồng nhan”:
Nẻo trời đất nổi cơn gió bụi,
Kẻ hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.
      Chúng ta đọc tiếp câu thơ sau đây:
2.Tư mệnh bạc, tích niên hoa,
Ty ty thiếu phụ cơ thành bà?
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa, (bản A)
Gái tơ mấy chốc sảy ra nạ dòng?
Tiếc tuổi hoa cùng than phận bạc (bản B)
Ả thuyền quyên mấy đạc nên già?
      Bản A, tác giả dịch phải là nữ giới mới nói được một cách chân thực nỗi lòng và sự thật tình cảnh người chinh phụ đợi chồng phải gánh chịu. Đặc biệt ta chú ý đến chữ “Ả”. Chữ “Ả” để chỉ người phụ nữ với ý coi thường, có vẻ khinh miệt. Rõ ràng tác giả dịch phải là nam giới, người từng làm quan, kẻ trên nhìn xuống kẻ dưới. Bà Đoàn Thị Điểm không thể tự khinh miệt giới mình.
3.Tương cố bất tương kiến
 Thanh thanh mạch thượng tang
 Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
 Thiếp ý, quân tâm, thùy đoản tràng?
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, (bản A)
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?
Trông nhau mà chẳng thấy nhau, (bản B)
Xanh xanh những thấy bóng dâu trên đường.
Dâu mấy hàng, có hay chăng nhẽ,
Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài?
      Liệu có người phụ nữ nào nói với chồng quan: Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài? Câu thơ này chắc chắn là do đàn ông viết, coi mình là người bề trên mới viết như vậy.
4.Cung tiễn hề tại yêu,
Thê noa hề biệt quyết.
Đường giong ruổi, lưng đeo cung tiễn
Buổi tiễn đưa, lòng bịn thê noa (bản A)
Lưng trẩy đi cung tên mang mẻ, (bản B)
Áo phân tay, xem nhẹ tình duyên.
      Câu thơ ở bản A có chất nữ tính, do phụ nữ viết. Câu thơ ở bản B có chất nam tính, chỉ có đàn ông mới viết “xem nhẹ tình duyên”, phụ nữ không nói như vậy.
5.Liên hiệp tinh kỳ hề xuất tái sầu,
 Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán.
 Hữu oán hề phân huề,
 Hữu sầu hề khế khoát.
Bóng cờ, tiếng trống xa xa, (bản A)
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Ngọ cờ ra ải đeo phiền, (bản B)
Trống còi ong ỏng, dẹp bên, giã nhà.
Câu thơ bản A là lời oán trách, đầy tâm trạng của người trong giới nữ. Còn câu thơ bản B dửng dưng với sự việc mà mình đang mô tả, thể hiện tính đàn ông bàng quang với sự việc trước mắt, câu thơ thiếu cái tình người ở trong đó.
     Những ví dụ tiếp theo sau đây, đều chứng tỏ người dịch bản A là nữ giới, và người dịch bản B là nam giới:
6.Khách phong lưu đương chừng niên thiếu (bản A)
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan sơn để cách hàn huyên sao đành?
Tuổi chưa nhiều, đấy phong lưu khách, (bản B)
 Đây trẻ trung muôn dịch vừa quen.
 Bao kham đôi trẻ thiếu niên,
 Đều riêng ấm lạnh, dặm nghìn ai hay?
      Lễ giáo phong kiến đã ăn sâu vào máu thịt, dịch giả là nữ, và người vợ thời xưa, liệu có dám xưng với chồng quan là: “đấy phong lưu khách” và “đây trẻ trung muôn dịch vừa quen”, một cách “bình đẳng” và có vẻ “hơi hỗn” như vậy không?
7.Mẹ già phơ phất mái sương (bản A)
Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.
Tóc dường sương, mẹ chàng tuổi tác, (bản B)
Mà con chàng trứng nước tuổi thơ.
Mẹ già ngoài cửa đứng chờ,
Con thơ ngồi chực sớm trưa bữa thường.
Nuôi mẹ chàng, thiếp khôn làm gái,
Dạy con chàng, thiếp phải làm cha.
      Bà Đoàn Thị Điểm được học hành, được giáo dục cẩn thận, lễ giáo phong kiến nghiêm khắc, bà không thể dịch “mẹ chàng”, “con chàng” được. Đọc mấy câu thơ bản A, ta có cảm giác như chính công việc của bà Đoàn Thị Điểm vẫn phải làm, khi cha và anh mất sớm, bà phải làm nhiều việc để nuôi mẹ và các cháu.
8.Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu (bản A)
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Ngoảnh trông dương liễu nơi nào, (bản B)
Ấn phong hầu, giận khát khao nỗi gì?
Nẻo trẩy đi, dặm nghìn cách trở,
Biết lòng chàng có tựa thiếp chăng?
      Ở bản A, người phụ nữ tỏ ra ân hận, khi đồng ý để chồng nhận tước phong ra trận. Đây là tâm lý rất phụ nữ, chỉ phụ nữ mới có thể dịch được như vậy.
      Còn rất nhiều câu thơ tương tự, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số ví dụ.
      Thơ là người. Trong thơ mang hình bóng tác giả. Ngay cả thơ dịch, cũng thể hiện phong cách, tâm hồn, vốn sống, sự từng trải, quan điểm (quan điểm sống, xử thế, nghệ thuật văn chương…). Và đặc biệt trong thơ (kể cả thơ dịch) thể hiện cái chất nữ tính và nam tính rất rõ.
      Đọc kỹ bản B, đúng như lời ông Phan Huy Ích đã nói trong bài “Ngẫu Thuật”, là ông đã cố gắng truyền tải hết ý của tác giả Đặng Trần Côn vào trong bản dịch Nôm của ông, và không thật coi trọng việc chuốt từ, tìm vần… Vì vậy khi đọc bản B, ta cảm thấy văn chương hơi bị gò ép, lời văn thiếu khoáng đạt, trau chuốt, nhiều khi dùng luôn câu chữ của tác giả Đặng Trần Côn. Đôi khi ông còn lấy cả ý thơ của bà Đoàn
Thị Điểm. Ví dụ câu thơ dịch sau đây của bà Đoàn Thị Điểm rất hay, rất chỉnh:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
Còn câu của ông Phan Huy Ích:
Rụng đùng đùng lá dương, sương bổ,
Cây ngô đồng mưa nọ chẻ tan.
Nguyên tác:
Sương phủ tàn hề dương liễu,
Vũ cứ tổn hề ngô đồng.
Bà Đoàn dùng từ “bổ mòn”“xẻ héo”, còn ông Ích dùng từ “bổ”“chẻ” (gần giống xẻ). Hai chữ “bổ mòn”“xẻ héo” không có trong nguyên tác của Đặng Trần Côn. Phải chăng, ông Phan Huy Ích đã học hai chữ này của bà Đoàn Thị điểm?! Và nếu đúng như vậy, thì bản A đích thị là của bà Đoàn Thị Điểm dịch.
      Từ những nhận xét và dẫn chứng nêu ra ở trên, nhìn nhận một cách tổng thể, trên cơ sở phân tích chất nữ tính trong bản A, chất nam tính trong bản B và quan điểm dịch thơ của hai tác giả Phan Huy Ích và Đoàn Thị Điểm, cũng như trình độ, tầm cỡ, bề dầy thơ ca, cuộc sống và gia đình… , chúng tôi cho rằng bản A mới là bản dịch của Đoàn Thị Điểm, còn bản B là bản dịch của Phan Huy Ích.
----------------
 Viết thêm:
      Trong cuốn “Chinh phụ ngâm bị khảo”, GS. Hoàng Xuân Hãn nghi bản C là của Nguyễn Khản. Ông Thế Anh, vào tháng 7 năm 2012, có đăng một bài nói rằng, ông có đọc được một cuốn sách Hán – Nôm chép tay ở Thư viên Quốc gia, ký hiệu R1674, có nhan đề là “Nam phong giải trào”. Ở phần cuối cuốn sách này có chép bản dịch Chinh phụ ngâm ghi rõ người dịch là Nguyễn Khản, nhưng không phải là bản C, mà là bản F (bản thứ 6), mà GS. Hoàng Xuân Hãn đã ghi người dịch là vô danh. Bản của TVQG có 192 câu, bản thứ 6 có 200 câu.
      Như vậy bản C không phải là của Nguyễn Khản thì là của ai?
      Bản dịch của Nguyễn Khản là một bản phỏng dịch, rút gọn lại rất nhiều so với nguyên bản. Bản chữ Hán của Đặng Trần Côn có 480 câu, bản dịch của Nguyễn Khản chỉ có 192 câu, viết theo thể lục bát, lời văn chải chuốt, có những đoạn bám sát nguyên bản.
      Ông Thế Anh đưa ra dẫn chứng một số câu trong bản dịch của Nguyễn Khản giống bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Và ông đưa ra nhận định: “Phải chăng bài dịch của Nguyễn Khản đã chịu ảnh hưởng của bài dịch Đoàn Thị Điểm, vì Đoàn Thị Điểm (1705) hơn Nguyễn Khản (1734) gần 30 tuổi, nên có nhiều khả năng bài dịch của Đoàn Thị Điểm ra đời trước”.    
   

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

THÔNG BÁO của Thi đàn bình thơ Trường Xuân


THÔNG BÁO
của Thi đàn bình thơ Trường Xuân

      Thi đàn bình thơ Trường xuân (TĐBT Trường Xuân) thuộc Hội Đá quý Việt Nam đã ra mắt vào ngày 22 tháng 01 năm 2013. TĐBT Trường Xuân gồm 9 ủy viên Ban chấp hành và các hội viên (HV) sáng lập. TĐBT Trường Xuân là một sân chơi mới của giới thi ca – những người làm thơ bình thơ và viết phê bình.
      TĐBT Trường Xuân xuất bản một Tập san lấy tên là Trường Xuân, 3 tháng ra một kỳ. Tập san gồm ba chuyên mục: thơ, chân dung tác giả và nghệ thuật thi ca:
      Thơ: Trong mục này sẽ đăng những bài thơ chọn lọc của HV TĐBT Trường Xuân, ngoài ra còn lựa chọn đăng những bài thơ hay của các tác giả thơ khác và chọn đăng những bài thơ hay trong các tập thơ, các tác giả gửi đến Hội đồng biên soạn.
      Chân dung tác giả: Chuyên mục gồm bài viết về tác giả và một chùm thơ chọn lọc tiêu biểu của tác giả đó, kèm theo ảnh chân dung.
      Nghệ thuật thi ca: Chuyên mục nhằm cung cấp thông tin về lý luận sáng tác và phê bình thơ. Bao gồm các bài viết chuyên sâu về các thể loại thơ, trường phái thơ, cách tân thơ… và những bài bình luận về một câu thơ, một bài thơ hay.
      Hội đồng biên soạn chúng tôi kính mời những người yêu thơ ca, thích viết bình luận gửi những bài bình luận có chất lượng và những bài thơ hay của mình để được đăng tải trong Tập san. Chúng tôi rất hân hạnh được tiếp nhận.   
      Những người yêu thơ ca không kể xa gần muốn gia nhập TĐBT Trường Xuân, chúng tôi rất hân hạnh được đón tiếp. Hội viên TĐBT Trường Xuân bao gồm HV gần và HV xa. HV gần là HV đến sinh hoạt thường kỳ, còn HV xa là HV không có điều kiện đến sinh hoạt thường kỳ được, thì gửi bài đến để được đăng trong Tập san.
      Bài vở xin gửi về Hội đồng biên soạn theo địa chỉ:
      Lê Thanh Long, số nhà 1, ngõ 93, phố Trung Kính, phường Trung Hòa,  
      Q. Cầu Giấy, Hà Nội (đề nghị đề rõ: chuyển phát tận nhà)
      Hoặc Email: lethanhlong123@yahoo.com.vn

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

Một vài ý kiến nho nhỏ bình luận một số câu thơ trong Truyện Kiều


LÊ THANH LONG                                                
                                                 
                                                

Một vài ý kiến nho nhỏ bình luận
 một số câu thơ trong Truyện Kiều


      Tìm hiểu ý nghĩa từng câu, từng chữ trong Truyện Kiều, cho đúng với thâm ý của cụ Nguyễn Du là một việc làm cực kỳ khó khăn, nhưng rất thú vị, để cho độc giả hiểu một cách sâu sắc Truyện Kiều. Đó là một việc làm rất đáng trân trọng của Hội Kiều học Việt Nam, đang được đông đảo bạn đọc hoan nghênh, hưởng ứng. Đầu năm 2013, Hội Kiều học vừa ra tập sách đầu tiên KHUÔN TRĂNG… NÉT NGÀI… trong tủ sách “Trăm năm”
      Tìm hiểu ý nghĩa từng câu thơ trong Truyện Kiều là phải theo đúng nguyên bản (theo các bản hiện có), như ý kiến của Hội Kiều học là hết sức đúng đắn. Ta không nên thay đổi văn bản khi bình luận, dù đó có thể là hay hơn, dễ hiểu hơn nguyên bản, nhưng đó không phải là thơ của cụ Nguyễn Du, chưa nói, làm như vậy là thiếu tôn trọng cụ. Chúng tôi rất đồng ý với ý kiến của Hội Kiều học là phải xét câu thơ quan hệ với các câu thơ khác và có khi toàn tác phẩm Truyện Kiều, có như vậy mới hiểu được đúng ý những câu thơ khó trong Truyện Kiều.
      Sau đây tôi xin có một số ý kiến bình luận về một số câu thơ được cho là “khó” trong Truyện Kiều, còn có ý kiến tranh luận chưa ngã ngũ:
1.Nguyễn Du lột tả tinh thần nội tâm của Thúy Vân và Thúy Kiều trong có hai câu thơ
      Câu thơ:
17.Mai cốt cách, tuyết tinh thần
18.Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười (1)
      Được cụ Vân Hạc Lê Văn Hòe chú giải: Mai cốt cách: cốt cách thanh kỳ như cây mai, ý nói tầm vóc người dong dỏng cao, thanh thanh như cành mai (cành mai coi gầy guộc xương xẩu, thanh thanh). Mấy chữ này tả tầm vóc Kiều.
      Tuyết tinh thần: tinh thần trong trắng như tuyết, ý nói tư tưởng trong sạch, đầu óc ngây thơ, không bợn một chút gì ô trọc, tức là ngoan ngoãn nết na, thật thà chất phác. Mấy chữ này tả tính tình, đức hạnh của Thúy Vân.
      Cứ coi câu sau: Mỗi người một vẻ… thì biết rằng mai cốt cách là vẻ của người này, và tuyết tinh thần là vẻ của người kia, chớ có hai vẻ đó không chung cho cả hai chị em Kiều như người ta vẫn thường hiểu.
      Mười phân vẹn mười: giá như vẻ của mai cốt cách có mười phần thì Kiều có đủ cả mười phần; vẻ của tuyết tinh thần có mười phần thì Vân có đủ mười phần ấy.
      Mai cốt cách là vẻ đẹp của thân hình; tuyết tinh thần là vẻ đẹp của nết na. Tác giả muốn nói: một người thì thân hình hết sức đẹp, một người thì nết na hết sức ngoan.
      Truyện Kiều có cả thảy 3254 câu lục bát, nhưng Nguyễn Du lột tả tinh thần nội tâm của Thúy Vân và Thúy Kiều chỉ trong có hai câu thơ:
17.Mại cốt cách, tuyết tinh thần
18. Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười
      Theo chúng tôi, câu thơ thứ hai giải thích và làm rõ ý cho câu thơ thứ nhất, mang tính so sánh “Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”, Thúy Vân và Thúy Kiều có khác nhau (Mỗi người một vẻ), nhưng đều toàn bích (mười phân vẹn mười). Mà đã so sánh thì phải so sánh cùng một loại hình nội dung: cùng so sánh về hình thể, hay cùng so sánh về tinh thần (ý nghĩ, tình cảm, đời sống nội tâm…), chứ không thể so sánh hình thể (thân hình, tầm vóc, khuôn hình…) của người này với tinh thần (tâm hồn, đời sống nội tâm…) của người kia được.
      Như vậy “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” phải được hiểu Nguyễn Du tả cùng một loại hình nội dung. “Tuyết tinh thần” thì đã rõ: nói về tinh thần, tính cách, tư tưởng, tâm hồn…, tức là Nguyễn Du muốn nói về vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp bên trong. Như vậy “Mai cốt cách” cũng phải hiểu là Nguyễn Du tả vẻ đẹp về tâm hồn bên trong, chứ không thể hiểu là vẻ đẹp về hình thể bên ngoài được (những câu thơ từ câu 19 trở đi Nguyễn Du so sánh vẻ đẹp hình thức bên ngoài của Thúy Vân và Thúy Kiều).
      Vậy “Mai cốt cách” là gì? “Mai cốt cách”tính cách như cây mai hay tính cách như hoa mai? Với một cô gái đẹp, con nhà khuê các, mới lớn 15 – 16 tuổi, mà ví như cây mai chịu sương, chịu gió, chịu giá rét, phong trần…  , thì e rằng không thích hợp. Vậy “Mai cốt cách” là Nguyễn Du ví tính cách như hoa mai, cũng trong trắng chẳng kém gì tuyết trắng, nhưng nếu hoa mai bị phơi ngoài nắng gió và giá rét, thì pha chút hồng, và càng nắng gió thì màu hồng càng đậm hơn. Hoa mai thích nghi được và thay đổi theo ngoại cảnh, tùy thuộc vào tình thế. Còn tuyết trắng thì dù có nắng gió, giá rét… tuyết vẫn trong trắng, tinh khiết, tinh khôi… Tinh thần hoa mai cũng trong trắng, trong sạch, nhưng có pha một chút hồng sắc sảo, không hoàn toàn thuần khiết như tuyết trắng. Từ “tinh thần” Nguyễn Du dùng ngày ấy giống như “tâm hồn” trong ngôn ngữ ngày nay. Từ “tinh thần” ngày nay đã mang một số ý nghĩa khác. Trong tinh thần như hoa mai và tinh thần như tuyết trắng, Nguyễn Du muốn ám chỉ ai? Thúy Vân hay Thúy Kiều? Đến đây đã rõ: Tinh thần như tuyết trắng là ám chỉ Thúy Vân, còn tinh thần như hoa mai là ám chỉ Thúy Kiều, Nguyễn Du đã chuẩn bị cho nhân vật Thúy Kiều sẽ phải trải phong trần, sương gió như hoa mai.

* Bản GS. Vũ Ngọc Khánh chú giải: Mỗi người một vẻ
   Bản Đào Duy Anh, hiệu khảo chú giải: mỗi người mỗi vẻ
   Tập sách: Khuôn trăng… nét ngài… cuộc tranh luận chưa kết thúc, chép là:     
   Một người một vẻ.

2. Bí quyết nghề nghiệp quan trọng bậc nhất của Tú Bà

      Trong các chỉ dẫn bí quyết nghề nghiệp của Tú Bà, người ta thắc mắc nhất là câu:
1213. Khi khóe hạnh, khi nét ngài
Vì sao vậy? Vì hiểu “khóe hạnh” là nhoẻn miệng cười và “nét ngài” là chau mày, là không đúng với ý thơ của Cụ Nguyễn Du, những hành động như vậy không có gì đặc biệt, nên không mê hoặc được khách làng chơi lắm tiền, nhiều của.
      Trong câu thơ Nguyễn Du sử dụng cụm từ khi… , khi… chia thành hai vế, hàm chứa tính chất đối lập của hành động, hay sự việc, tùy thuộc vào từng lúc, từng đối tượng khách làng chơi.
      Ta chú ý câu thơ:
1214. Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa
Khi thì đàn hát, ngâm thơ dưới trăng, khi thì cười cợt như hoa. Khi ngâm thơ là thể hiện người có học thức, có kiến thức, có tài, chỉ có con nhà quyền quý, con nhà lành mới có được phẩm chất này. Lúc nào dùng “chiêu” này? Tất nhiên là khi tiếp đón khách hàng là những trí thức có học vấn. “Khi cười cợt hoa” là hành động quyến rũ khách làng chơi bằng nụ cười, khóe mắt, sự nhí nhảnh, hồn nhiên… Hai vế của câu thơ này cũng có tính chất đối lập của hai hành động. Chúng ta chú ý đến bí quyết này mà Tú Bà dạy cho Thúy Kiều và các cô gái lầu xanh.
      Vì vậy, nếu câu: “Khi khóe hạnh, khi nét ngài” mà phân tích: “Khi khóe hạnh” là nhoẻn miệng cười hoặc liếc mắt đưa tình và nét ngài là chau mày, do chúng ta suy luận ra từ hình ảnh “hoa hạnh”, thì sẽ trùng với nội dung của câu “khi cười cợt hoa”, mà Nguyễn Du đã mô tả rõ ràng. Trong một bài bí quyết nghề nghiệp đâu có lặp lại hai lần một ý như nhau!
      Từ những dẫn giải ở trên, chúng tôi cho rằng trong câu “Khi khóe hạnh, khi nét ngài” Nguyễn Du cũng nói về hai sự việc hàm chứa tính chất đối lập nhau. “Khóe hạnh” không nhất thiết phải hiểu “hạnh”“hoa hạnh”, hạnh có hai nghĩa: hạnh là cây ăn quả họ đào, hạnh cũng có nghĩa là nết tốt của người con gái, “hạnh” có thể hiểu là “đức hạnh” như trong câu:
1469. Thương vì hạnh, trọng vì tài
1470. Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba
      Theo ý chúng tôi “Khi khóe hạnh, thi nét ngài”bí quyết nghề nghiệp quan trọng bậc nhất, mà Tú Bà chỉ dẫn cho Thúy Kiều và các gái lầu xanh. Tại sao vậy?
      “Khi khóe hạnh” không phải là hành động chinh phục, mà là thủ đoạn chinh phục. “Khi khóe hạnh” là đóng kịch, dùng lời nói, dùng hành động của mình, dùng tài ứng biến, thuyết phục khách làng chơi rằng mình là con cái nhà lành, đức hạnh, thùy mị, lỡ cơ, bị ép buộc bán vào đây, làm rung động trái tim, làm mủi lòng, làm mê hoặc những kẻ giàu có, nhẹ dạ cả tin, giống như ngày nay các ả cave đóng giả là sinh viên, nghệ sỹ…
      Còn cụm từ “khi nét ngài” lại là phương thức hành động, cách thức hành động. Đó là cách dùng những đường nét cơ thể, cử động cơ thể, những bộ phận cơ thể: Đôi gò bồng đảo, cái eo cong, cặp mông gợi tình, dáng đi uyển chuyển, tha thướt…mà trời phú cho những cô gái trẻ, đẹp để chinh phục khách làng chơi (như trong bài “Một cách hiểu khác về câu thơ thứ 20” trong Tuyện Kiều, tôi đã giải thích rõ “nét ngài” là gì, Tủ sách “Trăm năm”, Khuôn trăng… nét ngài… cuộc tranh luận chưa kết thúc, trang 54).

3. Ánh mắt sắc như nước
      Câu thơ:
25. Làn thu thủy, nét xuân sơn
26. Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
tả sắc đẹp của Thúy Kiều.
Bản GS. Vũ Ngọc Khánh chú giải: Thu thủy: Nước mùa thu. Xuân sơn: Núi mùa xuân. Câu này ví mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh đẹp như rặng núi mùa xuân.
Bản của cụ Vân Hạc Lê Văn Hòe cũng chú giải tương tự và thêm: Môi đỏ thắm đến nỗi hoa cũng phải ghen tỵ vì hoa thua thắm; mái tóc dài tốt và xanh đến nỗi tơ liễu cũng phải oán hờn vì liễu kém xanh (môi đỏ thắm, mái tóc dài tốt và xanh là suy luận không có trong văn bản).
      Nguyễn Du tả vẻ đẹp của Thúy Vân rất rõ ràng:
22. Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Còn khi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều:
Làn thu thủy, nét xuân sơn
Không biết cụ định tả cái gi? Cái gì như “làn thu thủy”, cái gì như “nét xuân sơn”? Làn thu thủy là gì? Nét xuân sơn là gì? Biết là Cụ tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, nhưng chủ thể của vẻ đẹp này là gì (bộ phận nào của cơ thể) thì hoàn toàn không biết. Vì chưa biết chủ thể, nên các chú giải cũng chỉ là suy đoán: Mắt Kiều trong sáng như làn nước mùa thu, lông mày xinh đẹp như rặng núi mùa xuân (mắt Kiều, lông mày là suy luận, không có trong văn bản).
      Nếu hiểu “Làn thu thủy” là làn nước mùa thu và “nét xuân sơn” là nét núi mùa xuân, một cách đơn giản như vậy, thì không thể giải thích được tại sao “hoa” lại phải “ghen thua thắm”, “liễu” phải “hờn kém xanh”? Vì làn nước mùa thu và nét núi mùa xuân thì cũng chẳng có gì đặc biệt cho lắm.
      Nguyễn Du viết:
1323.Nàng càng ủ dột thu ba
1324.Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh
      Theo ý kiến chúng tôi, trong câu thơ 25, “thu”“xuân” không phải là mùa thu và mùa xuân, “thu”“thu ba”, “xuân” “xuân thì, xuân sắc”, tức là làn thu ba như nước, nét xuân thì như nét núi.
      Mắt là cửa sổ tâm hồn, ánh mắt thể hiện nội tâm, thể hiện tính cách, nội tâm và tính cách toát ra từ ánh mắt. Làn thu ba như nước là ánh mắt sắc như nước. Ánh mắt sắc như nước, cái nhìn sắc như nước, cái liếc mắt sắc như nước, thì không thể có bút nào tả cho đẹp hơn, hay hơn được nữa.
      Nét xuân thì, nét xuân sắc là đặc trưng của các cô gái 15 – 16 tuổi, cái tuổi dậy thì đẹp nhất của đời người con gái. Ở cái tuổi này tất cả các nét đẹp của cơ thể của tâm hồn đều bừng sáng lên đến độ cực đại. Nét xuân thì như nét núi. Vậy “nét núi” là nét gì? Ngày xưa người ta thường vẽ tranh bằng bút lông, vẽ một ngọn núi thường chỉ bằng một nét cong là ra hình một ngọn núi. Vẽ hai nét cong liên tiếp sẽ thành hai quả núi. Hai nét cong cong này chúng ta thấy nó giống cái gì của người con gái dậy thì? Nó giống đôi “gò bồng đảo”, giống cặp vú. Như vậy “nét xuân sơn”đường nét đôi gò bồng đảo.
      Ánh mắt sắc như nước, đường nét đôi gò bồng đảo của Thúy Kiều đẹp đến nỗi “hoa” cũng phải “ghen thua thắm’, “liễu” cũng phải “hờn kém xanh”.
      Cuối cùng có thể tóm tắt lại như sau:
      Nét xuân sơnđường nét “đôi gò bồng đảo” của cô gái xuân sắc ở tuổi dậy thì Thúy Kiều, đẹp đến nỗi “hoa thắm” cũng phải “ghen” vì thua kém.
      Làn thu thủyánh mắt sắc như nước, đến nỗi “liễu” cũng phải “hờn” vì thua kém, nên ủ rũ “kém xanh” (chứ không phải thua kém về màu xanh).

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Thử tìm hiểu ý nghĩa và tính triết lí của câu ca dao: "Gió đưa cây cải... "


LÊ THANH LONG                                                


THỬ TÌM HIỂU Ý NGHĨA VÀ TÍNH TRIẾT LÍ
CỦA CÂU CA DAO:
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”

      Ca dao luôn luôn được lưu truyền trong không gian và qua thời gian. Quá trình lưu truyền có thể làm cho câu ca dao bị phá vỡ, mất đi ý nghĩa cũ và thay bằng ý nghĩa mới. Sự biến đổi đó làm xuất hiện những bản khác (còn gọi là dị bản), đó là điều tất yếu. Câu ca dao: Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” là dị bản của câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”. Hai câu ca dao chỉ khác nhau một chữ “đời” thay bằng chữ “lời”. Nhưng ý nghĩa và tính tiết lí thì khác hẳn.
      “Gió đưa cây cải về trời” là cách nói hình tượng về một người nào đó đã rời bỏ thế giới này, về “cái chết”. Còn “rau răm” chỉ người ở lại.
      Người đã về “cõi trời”, đã chết, hoặc mất chức,…, trước đây đã làm điều gì sai trái, để người ở lại phải “chịu lời đắng cay”. “Đắng, cay” là bản chất của hai loại rau: “rau cải” và “rau răm”, chỉ cuộc sống của hai người ở trên cõi đời này đã phải chịu đựng nhiều nỗi khó khăn, cơ cực trong cuộc sống. Nhưng người đi rồi để lại cho người còn sống phải “chịu lời đắng cay”. Một cách chơi chữ rất thâm thúy của cha ông ta. Cuộc sống đã “đắng” đã “cay”, đã khổ rồi, bây giờ lại phải “chịu” thêm “lời đắng cay” nữa.
      “Chịu lời đắng cay” là tâm điểm của câu ca dao này. Tại sao lại phải “chịu lời đắng cay”? Người ra đi, trước đó đã làm điều gì sai trái, để người ở lại phải hứng chịu “búa rìu” của dư luận, chịu nỗi dày vò, chịu tiếng xấu cho người đã ra đi. “Chịu đời đắng cay” thì dễ dàng hơn nhiều vì chỉ là chịu nỗi khổ về thể xác, về vật chất. “Chịu lời đắng cay” là phải chịu sự dè bỉu, chua cay, mỉa mai là những chịu đựng về tinh thần, thì khó khăn và đau đớn hơn nhiều. Chịu đựng nỗi khổ về tinh thần, khó khăn gấp nghìn vạn lần nỗi khổ về vật chất: Trăm năm bia đá thời mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!” Người đời thường nói: “Nhân nào quả ấy” là nói về sự sai trái của bản thân, mà mình phải gánh chịu. Nhưng ở đây là phải hứng “chịu” việc làm sai trái của người khác. Đó là điều không ai mong muốn, nhưng thực tế thì lại luôn luôn xẩy ra.
      Nguyễn Ánh cũng có công xây dựng đất nước, nhưng cái tiếng “Cõng rắn cắn gà nhà” thì không thể gột rửa được. Tất nhiên, khi ông ta còn làm vua, thì không ai dám nói ra điều đó, nhưng sau này con cháu của ông ta phải hứng “chịu” cái tiếng xấu đó.
      Ngày xưa một ông quan phụ trách một bộ, một tỉnh, một huyện… mà làm điều gì sai trái, phải đi tù đầy, thì cả họ phải chịu tiếng xấu, khó mà gượng dậy được. Nếu phạm vào tội nặng phải “chu di tam tộc”, thì không những một mà cả ba họ phải gánh “chịu” tội chết cùng ông ta.
      Ngày nay cũng chẳng khác mấy so với ngày xưa. Một ông Chủ tịch Hội đồng quản trị, một ông Tổng Giám đốc một Tổng Công ty lớn mà trình độ kém, thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, tham nhũng… gây nên thua lỗ, Công ty bị giải thể (về trời), thì Tổng Công ty đó và cả những người liên quan cũng phải hứng chịu đủ điều… rồi cả người dân cũng phải gánh chịu cái “đắng cay’ của đói nghèo…! Kể ra thì vô vàn, có lẽ thế cũng là đủ. Nói ít, bạn đọc hiểu nhiều!

Tính triết lý và ý nghĩa sâu xa của câu ca dao: "Gió đưa cây cải... "


LÊ THANH LONG                                                


TÍNH TRIẾT LÍ VÀ Ý NGHĨA SÂU XA
CỦA CÂU CA DAO
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”


      Cái triết lí ở đằng sau câu ca dao này là gì? Câu ca dao này muốn nói về cái gì đây? Ông cha ta muốn gửi gắm vào câu ca dao này quan điểm, nhân sinh quan gì đây?
      Ngay từ xa xưa, ông Hoài Nam Tử đã đặt câu hỏi về vấn đề sống chết và đưa ra quan điểm: “Sinh ký, tử quy”: “Sống gửi, thác về”. Nhưng chết rồi thì đi vềđâu thì ông không nói. Về đâu? Về lại chỗ đã đến! Tức là tái sinh!
Chết là trở về, con người sẽ phải trả lại cho trần gian tất cả những gì đã tạm vay mượn lúc sinh thời: tiền bạc, công danh, phú quý cùng với mọi vui buồn, sướng khổ, và hành trang duy nhất ta có thể mang theo trên đường trở về cũng chính là những gì ta đã mang vào đời, khi lọt lòng mẹ, đó là nghiệp. Cái “nghiệp” ràng buộc theo quy luật nhân duyên cá nhân với toàn thể loài người, toàn thể sinh vật. Đạo Phật quan niệm rằng: “Nếu khi còn sống ở đời này, người ta ăn ngay, ở lành, sống từ bi hỉ xả với mọi người, thì sau khi chết hồn thiêng của họ sẽ được đi về Cõi Cực Lạc”, cõi Niết Bàn. Cõi Cực Lạc của Đạo Phật cũng giống như Thiên đàng của Đạo Thiên Chúa. Thiên đàng hay Thiên đường: Cõi Trời (chữ Hán thiên là trời, tầng trời, cõi trời; đường hay đàng là cái nhà, cõi) là khái niệm về đời sau được tìm thấy trong nhiều tôn giáo và các tác phẩm triết học.
      Luồng triết học nổi tiếng của thế kỷ 20, mệnh danh là Chủ nghĩa hiện sinh, tập trung suy tư vào thân phận bi thương của kiếp người, nhấn mạnh tính hữu hạn và “dang dở” của đời người và cái chết là bằng chứng rõ nhất và cuối cùng.
      Khoa học, với tinh thần thực nghiệm, phải có bằng chứng, mắt thấy, tai nghe, sờ mó được, nên quan niệm khi chết thân xác tan rã không còn gì, đã kết luận chết là “đoạn diệt”. Đối với những người vô thần, chết là hết. Sinh ra từ cát bụi và chết lại trở về với cát bụi.
      Người ta phân biệt sự khác nhau giữa tục ngữ và ca dao ở chỗ: Tục ngữ thiên về lí trí, tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết lí dân gian, tri thức dân gian, ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian. Riêng câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời
                     Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”
thì lại có tính triết lí rất cao và đưa ra một quan điểm sống của cả một giai đoạn dài của thời đại.
      Đây là câu ca dao triết lí về cõi nhân sinh, xuất phát từ quan điểm “ cõi đời là cõi tạm”, “cõi sau khi chết mới là cõi vĩnh hằng”.
      Thời xưa, cuộc sống là quá khổ cực, thiếu thốn về vật chất, tinh thần, chiến tranh, chết chóc, đau thương chồng chất, xã hội thì bất công, kẻ giầu, người nghèo, áp bức bóc lột, vui ít buồn nhiều. Dưới con mắt của người dân nghèo, xã hội không mấy tốt đẹp. Trong cuộc sống thực tế của mỗi con người đều không được như mong muốn. Không mặt này thì mặt khác, người ta không thỏa mãn với cuộc sống hiện tại. Con người luôn luôn mơ ước có được những điều tốt đẹp hơn. Vì vậy người ta quan niệm, cõi nhân gian chỉ là cõi tạm, cái chết sẽ giải thoát cho con người “kiếp khổ nạn”, được trở về Cõi Vĩnh Hằng.
      Rau “cải” là món ăn dân dã, có vị “đắng” khi xào hay luộc, và có vị “cay” khi ăn sống loại rau cải “mào gà” thái nhỏ. Rau “răm” là món rau gia vị vừa “cay”, vừa “đắng”, không thể thiếu trong nhiều món ăn như trứng vịt lộn, canh hến, canh ngao, canh cá… Hai loại rau này, tuy khác loại, nhưng đều có vị “đắng” và vị “cay” giống nhau. Trong câu ca dao trên, “cây cải” và “rau răm” tượng trưng cho con người trong xã hội xưa, có cùng cảnh ngộ.
      Trong ca dao, người ta hay mở đầu bằng hai từ “Gió đưa…, thường để chỉ một sự việc đang hoặc đã xẩy ra như:
Gió đưa ông đội vào kinh
Bà đội thương tình cắp nón chạy theo
hay:                                   Gió đưa tờ giấy lên mây
Gió đưa cô tú vào đây ăn trầu
Trong trường hợp câu: “Gió đưa cây cải về trời” là chỉ người đã chết và được trở về Cõi Trời. Theo quan niệm xưa, trong hai vợ chồng hay hai người bạn, một người chết, coi như là được giải thoát khỏi kiếp người, được trở về cõi Vĩnh Hằng, Cõi Trời, Thiên Đàng, Cõi Niết Bàn. Còn người ở lại – “Rau răm” thì vẫn phải sống một cuộc đời khổ cực như cũ, vẫn phải chịu cuộc “đời”đắng cay” như cũ: “Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.
      Có ý kiến cho rằng đời sống là mong manh. Nhưng thực ra, trên thực tế, sự sống là mãnh liệt và vô cùng kỳ diệu. Bất chấp mọi khó khăn về đời sống thiếu thốn, môi trường, khí hậu khắc nghiệt sự sống vẫn tồn tại, và tồn tại lâu dài theo cách riêng của mình, đó là truyền nòi giống sang thế hệ kế tiếp. Đó là luân hồi của chuỗi sinh diệt, diệt sinh vô cùng tận.
      Ở thời đại chúng ta, thời đại cuộc sống vật chất và tinh thần đã khác xưa nhiều, đã đầy đủ hơn (tuy không phải cho tất cả mọi người), vì vậy không ai muốn chết cả. Khoa học và trình độ hiểu biết của dân chúng đã khá cao, người ta tin vào khoa học hơn là những điều có tính chất thần bí. Cái chết sẽ đến là lẽ đương nhiên, quy luật không ai tránh được của tạo hóa, người ta không chờ đợi nó, nhưng người ta chấp nhận nó. Người ta tìm mọi cách để nó đến càng chậm càng tốt, bẳng khoa học, bằng sự nỗ lực của bản thân, đó là cách sống tích cực. Quan điểm sống và nhân sinh quan đã khác xưa nhiều. Trong thời đại tự do, sống như thế nào là tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người. Nhưng quan điểm và nhân sinh quan của câu ca dao nêu lên ở trên  vẫn còn có tính “thời sự” ở thời đại ngày nay, và đáng để cho chúng ta suy ngẫm.


Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Rượu đời



RƯỢU  ĐỜI


Ngồi uống nước chắt từ trời
Ngả nghiêng sông núi cõi người hư vô
Ngồi uống nước cất từ vò
Môi cay nhân thế, tay quờ nỗi đau.

Ngồi uống nước ủ men ngầu
Nỗi đời trong đục ngang đầu sương sa
Thôi nào, uống cạn chén hòa
Việc đời được mất như là bụi mây.

Nhấp giọt đắng, cạn giọt cay
Lẽ đời uống một chén đầy tràn môi
Rót nào, rượu cạn đáy rồi
Ngất ngơ dưới ấy mặt người đỏ gay

Anh hào tràn cuộc tỉnh say
Uống đi kẻo thế gian này ngả nghiêng !
Chạm môi vào cõi ưu phiền
Chuông chùa gióng giả nỗi niềm chúng sinh.

Ai sinh ra chất men tình
Cho thương, cho nhớ, cho mình ngẩn ngơ
Uống đi nào để mộng mơ
Rượu đời đắng ngọt quanh bờ môi êm.

Trăng lên đang ngó vào thềm
Hai người uống rượu say mềm thế gian.