Thứ Hai, 25 tháng 2, 2013

Thử tìm hiểu ý nghĩa và tính triết lí của câu ca dao: "Gió đưa cây cải... "


LÊ THANH LONG                                                


THỬ TÌM HIỂU Ý NGHĨA VÀ TÍNH TRIẾT LÍ
CỦA CÂU CA DAO:
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”

      Ca dao luôn luôn được lưu truyền trong không gian và qua thời gian. Quá trình lưu truyền có thể làm cho câu ca dao bị phá vỡ, mất đi ý nghĩa cũ và thay bằng ý nghĩa mới. Sự biến đổi đó làm xuất hiện những bản khác (còn gọi là dị bản), đó là điều tất yếu. Câu ca dao: Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu lời đắng cay” là dị bản của câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời / Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”. Hai câu ca dao chỉ khác nhau một chữ “đời” thay bằng chữ “lời”. Nhưng ý nghĩa và tính tiết lí thì khác hẳn.
      “Gió đưa cây cải về trời” là cách nói hình tượng về một người nào đó đã rời bỏ thế giới này, về “cái chết”. Còn “rau răm” chỉ người ở lại.
      Người đã về “cõi trời”, đã chết, hoặc mất chức,…, trước đây đã làm điều gì sai trái, để người ở lại phải “chịu lời đắng cay”. “Đắng, cay” là bản chất của hai loại rau: “rau cải” và “rau răm”, chỉ cuộc sống của hai người ở trên cõi đời này đã phải chịu đựng nhiều nỗi khó khăn, cơ cực trong cuộc sống. Nhưng người đi rồi để lại cho người còn sống phải “chịu lời đắng cay”. Một cách chơi chữ rất thâm thúy của cha ông ta. Cuộc sống đã “đắng” đã “cay”, đã khổ rồi, bây giờ lại phải “chịu” thêm “lời đắng cay” nữa.
      “Chịu lời đắng cay” là tâm điểm của câu ca dao này. Tại sao lại phải “chịu lời đắng cay”? Người ra đi, trước đó đã làm điều gì sai trái, để người ở lại phải hứng chịu “búa rìu” của dư luận, chịu nỗi dày vò, chịu tiếng xấu cho người đã ra đi. “Chịu đời đắng cay” thì dễ dàng hơn nhiều vì chỉ là chịu nỗi khổ về thể xác, về vật chất. “Chịu lời đắng cay” là phải chịu sự dè bỉu, chua cay, mỉa mai là những chịu đựng về tinh thần, thì khó khăn và đau đớn hơn nhiều. Chịu đựng nỗi khổ về tinh thần, khó khăn gấp nghìn vạn lần nỗi khổ về vật chất: Trăm năm bia đá thời mòn / Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ!” Người đời thường nói: “Nhân nào quả ấy” là nói về sự sai trái của bản thân, mà mình phải gánh chịu. Nhưng ở đây là phải hứng “chịu” việc làm sai trái của người khác. Đó là điều không ai mong muốn, nhưng thực tế thì lại luôn luôn xẩy ra.
      Nguyễn Ánh cũng có công xây dựng đất nước, nhưng cái tiếng “Cõng rắn cắn gà nhà” thì không thể gột rửa được. Tất nhiên, khi ông ta còn làm vua, thì không ai dám nói ra điều đó, nhưng sau này con cháu của ông ta phải hứng “chịu” cái tiếng xấu đó.
      Ngày xưa một ông quan phụ trách một bộ, một tỉnh, một huyện… mà làm điều gì sai trái, phải đi tù đầy, thì cả họ phải chịu tiếng xấu, khó mà gượng dậy được. Nếu phạm vào tội nặng phải “chu di tam tộc”, thì không những một mà cả ba họ phải gánh “chịu” tội chết cùng ông ta.
      Ngày nay cũng chẳng khác mấy so với ngày xưa. Một ông Chủ tịch Hội đồng quản trị, một ông Tổng Giám đốc một Tổng Công ty lớn mà trình độ kém, thiếu trách nhiệm, thiếu đạo đức, tham nhũng… gây nên thua lỗ, Công ty bị giải thể (về trời), thì Tổng Công ty đó và cả những người liên quan cũng phải hứng chịu đủ điều… rồi cả người dân cũng phải gánh chịu cái “đắng cay’ của đói nghèo…! Kể ra thì vô vàn, có lẽ thế cũng là đủ. Nói ít, bạn đọc hiểu nhiều!

Tính triết lý và ý nghĩa sâu xa của câu ca dao: "Gió đưa cây cải... "


LÊ THANH LONG                                                


TÍNH TRIẾT LÍ VÀ Ý NGHĨA SÂU XA
CỦA CÂU CA DAO
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”


      Cái triết lí ở đằng sau câu ca dao này là gì? Câu ca dao này muốn nói về cái gì đây? Ông cha ta muốn gửi gắm vào câu ca dao này quan điểm, nhân sinh quan gì đây?
      Ngay từ xa xưa, ông Hoài Nam Tử đã đặt câu hỏi về vấn đề sống chết và đưa ra quan điểm: “Sinh ký, tử quy”: “Sống gửi, thác về”. Nhưng chết rồi thì đi vềđâu thì ông không nói. Về đâu? Về lại chỗ đã đến! Tức là tái sinh!
Chết là trở về, con người sẽ phải trả lại cho trần gian tất cả những gì đã tạm vay mượn lúc sinh thời: tiền bạc, công danh, phú quý cùng với mọi vui buồn, sướng khổ, và hành trang duy nhất ta có thể mang theo trên đường trở về cũng chính là những gì ta đã mang vào đời, khi lọt lòng mẹ, đó là nghiệp. Cái “nghiệp” ràng buộc theo quy luật nhân duyên cá nhân với toàn thể loài người, toàn thể sinh vật. Đạo Phật quan niệm rằng: “Nếu khi còn sống ở đời này, người ta ăn ngay, ở lành, sống từ bi hỉ xả với mọi người, thì sau khi chết hồn thiêng của họ sẽ được đi về Cõi Cực Lạc”, cõi Niết Bàn. Cõi Cực Lạc của Đạo Phật cũng giống như Thiên đàng của Đạo Thiên Chúa. Thiên đàng hay Thiên đường: Cõi Trời (chữ Hán thiên là trời, tầng trời, cõi trời; đường hay đàng là cái nhà, cõi) là khái niệm về đời sau được tìm thấy trong nhiều tôn giáo và các tác phẩm triết học.
      Luồng triết học nổi tiếng của thế kỷ 20, mệnh danh là Chủ nghĩa hiện sinh, tập trung suy tư vào thân phận bi thương của kiếp người, nhấn mạnh tính hữu hạn và “dang dở” của đời người và cái chết là bằng chứng rõ nhất và cuối cùng.
      Khoa học, với tinh thần thực nghiệm, phải có bằng chứng, mắt thấy, tai nghe, sờ mó được, nên quan niệm khi chết thân xác tan rã không còn gì, đã kết luận chết là “đoạn diệt”. Đối với những người vô thần, chết là hết. Sinh ra từ cát bụi và chết lại trở về với cát bụi.
      Người ta phân biệt sự khác nhau giữa tục ngữ và ca dao ở chỗ: Tục ngữ thiên về lí trí, tục ngữ cung cấp cho người nghe những triết lí dân gian, tri thức dân gian, ca dao thiên về tình cảm, có nội dung trữ tình dân gian. Riêng câu ca dao: “Gió đưa cây cải về trời
                     Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”
thì lại có tính triết lí rất cao và đưa ra một quan điểm sống của cả một giai đoạn dài của thời đại.
      Đây là câu ca dao triết lí về cõi nhân sinh, xuất phát từ quan điểm “ cõi đời là cõi tạm”, “cõi sau khi chết mới là cõi vĩnh hằng”.
      Thời xưa, cuộc sống là quá khổ cực, thiếu thốn về vật chất, tinh thần, chiến tranh, chết chóc, đau thương chồng chất, xã hội thì bất công, kẻ giầu, người nghèo, áp bức bóc lột, vui ít buồn nhiều. Dưới con mắt của người dân nghèo, xã hội không mấy tốt đẹp. Trong cuộc sống thực tế của mỗi con người đều không được như mong muốn. Không mặt này thì mặt khác, người ta không thỏa mãn với cuộc sống hiện tại. Con người luôn luôn mơ ước có được những điều tốt đẹp hơn. Vì vậy người ta quan niệm, cõi nhân gian chỉ là cõi tạm, cái chết sẽ giải thoát cho con người “kiếp khổ nạn”, được trở về Cõi Vĩnh Hằng.
      Rau “cải” là món ăn dân dã, có vị “đắng” khi xào hay luộc, và có vị “cay” khi ăn sống loại rau cải “mào gà” thái nhỏ. Rau “răm” là món rau gia vị vừa “cay”, vừa “đắng”, không thể thiếu trong nhiều món ăn như trứng vịt lộn, canh hến, canh ngao, canh cá… Hai loại rau này, tuy khác loại, nhưng đều có vị “đắng” và vị “cay” giống nhau. Trong câu ca dao trên, “cây cải” và “rau răm” tượng trưng cho con người trong xã hội xưa, có cùng cảnh ngộ.
      Trong ca dao, người ta hay mở đầu bằng hai từ “Gió đưa…, thường để chỉ một sự việc đang hoặc đã xẩy ra như:
Gió đưa ông đội vào kinh
Bà đội thương tình cắp nón chạy theo
hay:                                   Gió đưa tờ giấy lên mây
Gió đưa cô tú vào đây ăn trầu
Trong trường hợp câu: “Gió đưa cây cải về trời” là chỉ người đã chết và được trở về Cõi Trời. Theo quan niệm xưa, trong hai vợ chồng hay hai người bạn, một người chết, coi như là được giải thoát khỏi kiếp người, được trở về cõi Vĩnh Hằng, Cõi Trời, Thiên Đàng, Cõi Niết Bàn. Còn người ở lại – “Rau răm” thì vẫn phải sống một cuộc đời khổ cực như cũ, vẫn phải chịu cuộc “đời”đắng cay” như cũ: “Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”.
      Có ý kiến cho rằng đời sống là mong manh. Nhưng thực ra, trên thực tế, sự sống là mãnh liệt và vô cùng kỳ diệu. Bất chấp mọi khó khăn về đời sống thiếu thốn, môi trường, khí hậu khắc nghiệt sự sống vẫn tồn tại, và tồn tại lâu dài theo cách riêng của mình, đó là truyền nòi giống sang thế hệ kế tiếp. Đó là luân hồi của chuỗi sinh diệt, diệt sinh vô cùng tận.
      Ở thời đại chúng ta, thời đại cuộc sống vật chất và tinh thần đã khác xưa nhiều, đã đầy đủ hơn (tuy không phải cho tất cả mọi người), vì vậy không ai muốn chết cả. Khoa học và trình độ hiểu biết của dân chúng đã khá cao, người ta tin vào khoa học hơn là những điều có tính chất thần bí. Cái chết sẽ đến là lẽ đương nhiên, quy luật không ai tránh được của tạo hóa, người ta không chờ đợi nó, nhưng người ta chấp nhận nó. Người ta tìm mọi cách để nó đến càng chậm càng tốt, bẳng khoa học, bằng sự nỗ lực của bản thân, đó là cách sống tích cực. Quan điểm sống và nhân sinh quan đã khác xưa nhiều. Trong thời đại tự do, sống như thế nào là tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người. Nhưng quan điểm và nhân sinh quan của câu ca dao nêu lên ở trên  vẫn còn có tính “thời sự” ở thời đại ngày nay, và đáng để cho chúng ta suy ngẫm.


Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Rượu đời



RƯỢU  ĐỜI


Ngồi uống nước chắt từ trời
Ngả nghiêng sông núi cõi người hư vô
Ngồi uống nước cất từ vò
Môi cay nhân thế, tay quờ nỗi đau.

Ngồi uống nước ủ men ngầu
Nỗi đời trong đục ngang đầu sương sa
Thôi nào, uống cạn chén hòa
Việc đời được mất như là bụi mây.

Nhấp giọt đắng, cạn giọt cay
Lẽ đời uống một chén đầy tràn môi
Rót nào, rượu cạn đáy rồi
Ngất ngơ dưới ấy mặt người đỏ gay

Anh hào tràn cuộc tỉnh say
Uống đi kẻo thế gian này ngả nghiêng !
Chạm môi vào cõi ưu phiền
Chuông chùa gióng giả nỗi niềm chúng sinh.

Ai sinh ra chất men tình
Cho thương, cho nhớ, cho mình ngẩn ngơ
Uống đi nào để mộng mơ
Rượu đời đắng ngọt quanh bờ môi êm.

Trăng lên đang ngó vào thềm
Hai người uống rượu say mềm thế gian.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Hãy trả lại ý nghĩa đích thực cho câu ca dao: "Gió đưa cây cải..."


LÊ THANH LONG                                                



Hãy trả lại ý nghĩa đích thực cho câu ca dao

“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”

      Một câu ca dao, có thể từ đời sống thực tế mà khái quát nên, nhằm chuyển tải một nội dung giáo dục, răn dạy hay một triết lý sống, có khi khái quát thành một quan niệm sống của cả một thời đại, trong một khoảng thời gian khá dài.
      Ngược lại, cũng có khi từ một câu ca dao có tính khái quát cao, lại được gán ghép cho những sự kiện lịch sử cụ thể, thậm chí là một tên người cụ thể, hợp với câu ca dao sẵn có từ trước đó.
      Một trong những câu ca dao hay cả về ý lẫn lời, thâm thúy và sâu sắc rơi vào tình trạng trên, đó là câu ca dao:
“Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”
Người ta không còn chú ý tới ý nghĩa đích thực của câu ca dao, mà chỉ chú ý tới xuất xứ của nó.
      Trên mạng Internet hiện nay (2013), có vô số bài viết về xuất xứ của câu ca dao này. Nhưng những tư liệu và cứ liệu đưa ra đều không được chứng minh bằng sử liệu hay bằng những tài liệu chính thống tin cậy, thậm chí mang tính chất thần thoại, hoang đường. Trong lịch sử xuất hiện nhiều giai thoại. Đó là những tập truyền, là lời truyền khẩu về một câu chuyện đã xẩy ra từ trước, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dần dần in sâu vào tâm trí mọi người. Một giai thoại kiểu như thế đang được lưu truyền.
     Khi hỏi về nguồn gốc và xuất xứ của hai câu ca dao trên, những ai có dịp ghé thăm Côn Đảo, được hướng dẫn vào thăm một ngôi miếu. Ở đó, các hướng dẫn viên giới thiệu nơi đây đang thờ một bà vợ của vua Gia Long, có nguồn gốc từ một câu chuyện  của người phụ nữ có tên là Lê Thị Răm?!
      Đó là vào năm 1783, sau khi bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, Nguyễn Ánh mang cả vợ con và đoàn tùy tùng của mình chạy ra đảo Côn Sơn (Côn Đảo). Để chống lại Tây Sơn, Nguyễn Ánh dự định gửi con cả là Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện thông qua giám mục Bá Đa Lộc. Bà Phi Yến, tên thật là Lê Thị Răm – là vợ thứ của Nguyễn Ánh, đã can ngăn chồng, đừng làm việc “cõng rắn cắn gà nhà”. Nguyễn Ánh chẳng những không nghe lời khuyên của bà mà còn tức giận, nghi bà thông đồng với Tây Sơn, nên định giết bà. Nhưng nhờ quân sĩ can xin (?), nên Nguyễn Ánh nhốt bà vào một hang đá trên đảo, về sau ngọn núi này được gọi là núi Bà. Ít lâu sau Nguyễn Ánh rời Côn Sơn, có một hoàng tử tên là Cải, còn có tên là hoàng tử Hội An, con của bà Răm, lúc đó mới 4 tuổi, đòi mẹ đi theo cùng. Trong cơn tức giận, cho rằng con trai mình cũng là dòng phản phúc, Nguyễn Ánh đã ném con xuống biển. Xác hoàng tử trôi dạt vào bãi biển Cỏ Ông, được dân làng mang chôn cất tử tế. Bà Phi Yến sau đó được một con vượn và một con hổ cứu ra khỏi hang, và về chung sống với dân làng. Một lần, sau khi bị kẻ xấu xúc phạm, bà đã tự tử để thủ tiết với chồng…!
      Theo sách Nguyễn Phúc Tộc thế phả, Nguyễn Ánh có tất cả 21 bà vợ,18 hoàng tử và 18 hoàng nữ, nhưng không thấy có ai là Răm hay Cải (Hội An) cả. Trong thời gian bôn tẩu, Nguyễn Ánh chưa ban tên thụy cho một ai, vì lý do đơn gian là ông chưa phải là vua, vì thế không thể có chuyện ông ban tên thụy là Phi Yến cho bà Răm được. Điều quan trọng hơn là theo tác giả Đinh Văn Hạnh, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin – Bà Rịa Vũng Tầu trên một bài viết, cũng phổ biến trên tạp chí X&N đã chứng minh rằng: Nguyễn Ánh chưa bao giờ đặt chân đến Côn Đảo, mặc dù sự kiện Nguyễn Ánh đến tá túc tại Côn Đảo đã được các nhà viết sử nhà Nguyễn chép lại, nhưng lại ghi thêm là “chỉ nghe kể chép lại”!
      “Sự nghi ngờ về sự kiện lịch sử ghi trong “Đại Nam thực lục” đã có từ những năm 40 của thế kỷ trước. Thời điểm đó tạp chí Tri Tân đặt ra tranh luận và giải quyết (Số 67 – 7 October 1942)… Họ đã đưa ra được những chứng cứ thuyết phục, kể cả việc phủ nhận tên gọi núi Chúa ở Côn Đảo, không liên quan gì đến Nguyễn Ánh cả. Nhưng những tác giả trên tạp chí Tri Tân cũng chỉ là người đi sau. Sự nhầm lẫn của các sử gia triều Nguyễn, chép lại quá trình bôn ba của Nguyễn Ánh đã được sử gia người Pháp Ch. Maybon đính chính rất rõ ràng trong cuốn Histoire moderne du d’ Annam, 1582 – 1820 (Pái. Plon, 1919), rằng đảo Côn Lôn vốn chỉ được “nghe kể chép lại” trong “Đại Nam thực lục” chính là đảo Cổ Long (Koh Kong), một hòn đảo nhỏ nằm phía biển Campuchia, gần vùng biển Hà Tiên – Phú Quốc, chứ không phải đảo Côn Lôn – Côn Đảo, mà mọi người đã biết. Đây chỉ là sự lầm lẫn, khi chuyển chữ Koh Kong sang Hán tự. Trong gần 10 năm bị Tây Sơn truy lùng gắt gao nhất, Nguyễn Ánh chưa từng và cũng không đủ sức chạy ra Côn Đảo. Nguyễn Ánh lên làm vua và cho đến khi qua đời mà chưa một lần đến Côn Đảo…”
      Như thế đã rõ, Nguyễn Ánh không có ai là vợ tên Lê Thị Răm, cũng không có con là hoàng tử Cải, quan trọng nhất là ông ta chưa từng đặt chân đến Côn Đảo. Như vậy câu chuyện có liên quan đến sự kiện lịch sử ở trên chắc chắn là câu chuyện không có thật. Trong giai thoại này, để cho người nghe dễ tin là thật, người ta đã lồng người tên Răm trùng với tên rau răm và tên Cải trùng với tên rau cải, trong câu chuyện có thật trong lịch sử là Nguyễn Ánh.
      Đền thờ bà Phi Yến, tương truyền là đền thờ một vị thánh thần nào đó của Côn Đảo, được dựng và thờ phụng từ nhiều năm trước đó. Đền thờ vị thần thánh nào thì không có tài liệu chính xác để xác minh, vì những năm gần đây, người ta vẫn cho rằng nơi đó là đền thờ bà Phi Yến và quên đi giá trị thật của ngôi đền đó.
      Có người cho rằng, các sử gia nhà Nguyễn đã cố tình giấu nhẹm sự kiện này. Nhưng câu chuyện "Gia Long cõng rắn cắn gà nhà" thì người dân Việt Nam ai chả biết. Chắc chắn câu chuyện "truyền thuyết" quá cụ thể như vậy, chỉ có thể có, sau triều đại nhà Nguyễn. Truyền thuyết thì vẫn chỉ là truyền thuyết.
      Xét đến cùng, thì cả nghĩa đen và nghĩa bóng của câu ca dao đều không khớp với câu chuyện truyền thuyết. Hoàng tử Cải thì chết - "Gió đưa cây cải về trời". Còn Lê Thị Răm cũng chết, chứ không phải "Rau răm ở lại chịu lời đắng cay". Mà việc gì Lê thị Răm lại phải "chịu lời đắng cay" cho hoàng tử Cải?! Ngược lại, người gây ra sai trái là Gia Long thì vẫn sống và làm vua nhiều năm sau đó. Câu ca dao và câu chuyện truyền thuyết chẳng khác gì "râu ông nọ cắm cằm bà kia".
      Gắn câu ca dao với một câu chuyện cụ thể, mà câu chuyện lại không có thật, làm mất đi hoặc làm hạn chế tính chất khái quát, tính nhân văn và tính giáo dục của câu ca dao.
      Cần phải trả lại ý nghĩa đích thực cho câu ca dao trên!
      Theo suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, câu ca dao:
“Gió đua cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”
chỉ là dị bản thứ hai, sau này mới có. Câu ca dao nguyên bản, cổ hơn nữa là câu:
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay”
Hai câu ca dao chỉ khác nhau mỗi một từ là “lời” hoặc “đời”, nhưng khác hẳn nhau về ý nghĩa. Ông cha ta muốn nói cái gì đây? Chúng tôi sẽ bình luận hai câu ca dao này ở trong bài viết tiếp theo.

                            Sủa lại 8h ngày 03 tháng 4 năm 2013












Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

"Có nỗi buồn bay qua lỗ kim"



“Có nỗi buồn bay qua lỗ kim”

      Đây là câu thơ mở đầu trong bài thơ “Buồn…” của Bằng Việt, gồm 8 câu. Một câu thơ rất sâu sắc.
      Nghĩa đen của câu thơ này ai cũng hiểu được, đó là “nỗi buồn bay qua” một cái “lỗ kim” nhỏ bé. Nhưng tại sao lại là “bay” mà không phải là “chui” hay “luồn” “qua lỗ kim”? Có bao giờ “nỗi buồn” xuất phát từ trong lòng ta mà ra không? Chắc chắn là không. Ta không buồn vô cớ. Nỗi buồn bao giờ cũng từ bên ngoài, từ nơi khác đưa đến. Có rất nhiều nguyên nhân làm ta “buồn”: Do chia tay người yêu, do thất bại trong công việc, do mất mát người thân, có khi chỉ là những cãi cọ nhỏ, không hài lòng về một câu nói, một việc gì, có khi chỉ là do xa nhà… vân vân và vân vân.
      “Nỗi buồn” không đi đến, không chạy đến một cách từ từ, nó đến một cách đột ngột, tức thời, không kể khoảng cách xa gần… tức là nó từ đâu đó ở ngoài “bay” đến làm ta “buồn”, như từ một cuộc điện thoại cách xa hàng ngàn, thậm chí hàng vạn cây số, từ một mẩu tin nhắn, từ một bài báo, từ một hình ảnh trên TV… Tác giả dùng từ “bay” thật là tài tình, nó là “thi nhãn” (mắt thơ) – tức là chữ quan trọng hay và “đắt” nhất trong câu thơ.     
      “Nỗi buồn” nó “bay qua” cái “lỗ kim” nhỏ bé. Tức là nó đến mọi ngõ ngách của cuộc đời: từ ông già bà cả, từ các em học sinh nhỏ tuổi, từ chị lao công đến ông giám đốc, từ người bần cùng nhất trong xã hội đến người có quyền lực cao nhất trên cõi đời này… Nó luồn sâu vào trong trí óc ta, trong trái tim ta, đến từng tế bào, từng dây thần kinh nhỏ bé… Có “nỗi buồn” làm tê liệt mọi suy nghĩ, mọi cử động, bóp nghẹt trái tim ta, rồi bùng lên từ sâu thẳm cõi lòng, trào ra những giọt nước mắt đau thương. Có “nỗi buồn” chảy ngược vào trong, đau đớn tột cùng, như “nỗi buồn” của những người mẹ thương nhớ những đứa con máu thịt thân yêu của mình, đã nằm lại nơi chiến trường, mà không bao giờ trở về được nữa. Thậm chí có “nỗi buồn” gây ra những hành động bi quẫn, không kiểm soát được bản thân, đó là “Có nỗi buồn lướt trên miệng vực” (câu thơ thứ hai trong bài “Buồn…” )
      Một “nỗi buồn” từng trải, qua biết bao thăng trầm trong suốt cuộc đời nhà thơ, đúc kết lại chỉ trong một câu thơ. 


Thiên thần



THIÊN THẦN


Bé ôm vú mẹ ngủ khì
Chẳng cần biết, cái chi chi trên đời
Bé nằm rốn ngửa lên trời
Đạp không gian, toét miệng cười thế gian.

Bé bò vào dưới gầm bàn
Ngó chân thế sự, ngủ tràn cung mây
Bé dẫm lên trái đất này
                           Lon ton
                                       vịn
                                            ánh sáng ngày
                                                                  đứng lên!


"Chìa khóa" để "mở" bài thơ "Đây thôn vĩ dạ" của Hàn Mặc Tử



ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Lời bình của LÊ THANH LONG

      Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ là một trong những bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Hàn Mặc Tử cùng với Mùa xuân chín…
      Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có một số câu khó hiểu, nhiều nhà phê bình đã đưa ra những ý kiến khác nhau, đặc biệt câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” đã tốn nhiều giấy mực và tâm huyết của những nhà phê bình muốn làm sáng tỏ. Có những câu bị bỏ qua như “Áo em trắng quá nhìn không ra”…
      Đã có nhiều người bình bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” như bài của Mã Giang Lân (1,2), của Trần Văn Lý (3), của Trần Ngọc Hưởng (4)…Nhưng tôi vẫn chưa thỏa mãn về những bài bình đó, mặc dù bài bình của Mã Giang Lân công phu và đã sưu tầm được những tư liệu quý. Sau đây tôi xin đưa ra một số ý kiến cá nhân về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, những vấn đề chưa thấy đề cập tới và đưa ra cái “chìa khóa” mà mình dựa vào để “mở” bài thơ này.
      Thi sĩ họ Hàn làm bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ sau khi nhận được tấm bưu ảnh chụp phong cảnh bến Vĩ Dạ. Trong thư trả lời nhà thơ Quách Tấn ngày 15.4.1971 bà Hoàng Thị Kim Cúc nói rõ: Theo sự gợi ý của người em thúc bá, bạn của Hàn Mặc Tử, “để an ủi một tâm hồn vô cùng đau khổ” bà gửi cho nhà thơ một tấm bưu ảnh chụp phong cảnh có mây, nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước, kèm theo mấy lời thăm hỏi nhà thơ lúc này đang mắc bệnh hiểm nghèo, thăm hỏi nhưng không ký tên. Sau khi nhận được tấm bưu ảnh và mấy lời thăm hỏi của Hoàng Cúc, Hàn Mặc Tử viết mấy hàng chữ gửi Hoàng Cúc: “Túc hạ , có nhận được bức ảnh: Bến Vĩ Dạ lúc hừng đông ( hay là một đêm trăng?) và mấy hàng chữ của túc hạ gửi thăm. Muôn vàn cảm tạ. Túc hạ còn nhớ tới mười năm xưa, thế là phúc hậu lắm rồi. Mong ơn trên xuống lộc cho túc hạ thật đầy đẫy. Và mong rằng một mùa xuân nào đấy được gặp lại túc hạ mới phỉ tình cho. Thăm túc hạ bình an vui vẻ” (1,2).
      Để hiểu rõ hơn về bài thơ, ta cần biết một vài tư liệu liên quan. Hồi làm nhân viên Sở Đạc điền Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử thầm yêu trộm nhớ một cô gái Huế tên là Hoàng Thị Kim Cúc, con ông chủ Sở Đạc điền (một tình yêu đơn phương). Một thời gian sau Hàn Mặc Tử vào Sài Gòn làm báo, khi trở lại Quy Nhơn thì Hoàng Cúc đã theo gia đình về ở Vĩ Dạ. Thôn Vĩ Dạ nằm ngay bên bờ sông Hương thơ mộng.
      Bức ảnh thi sĩ họ Hàn nhận được từ Hoàng Cúc là ảnh chụp cảnh thôn Vĩ Dạ và con sông Hương. Bức bưu ảnh và mấy lời thăm hỏi của Hoàng Cúc là nguồn cảm hứng và khơi dậy “tình yêu đơn phương” mười năm về trước để thi sĩ nẩy sinh những câu thơ tài hoa làm nên tuyệt tác “Đây thôn Vĩ Dạ” (11.1939).
      Tôi xin nói ngay chiếc “chìa khóa” tôi dựa vào để “mở” bài thơ này là tấm Bưu ảnh của Hoàng Thị Kim Cúc gửi thi sĩ Hàn Mặc Tử, thư của bà Cúc gửi nhà thơ Quách Tấn (15.4.1971) với mô tả của bà về tấm bưu ảnh và mấy hàng chữ thi sĩ họ Hàn gửi Hoàng Thị Kim Cúc sau khi nhận được bức bưu ảnh (1,2). Ta thử đứng ở góc độ Hàn Mặc Tử khi xem bức bưu ảnh bến Vĩ Dạ mới nhận được và dựa trên bức bưu ảnh đó để sáng tác bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, như thế sẽ hiểu được ý nghĩa sâu xa của từng câu thơ, vấn đề sẽ trở nên rõ ràng và dễ dàng hơn.
      Thi sĩ họ Hàn không chắc tấm bưu ảnh chụp “Bến Vĩ Dạ lúc hừng đông” hay “một đêm trăng?”. Nên khổ thơ đầu tiên ông tả cảnh thôn Vĩ Dạ lúc “hừng đông”:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
      Khi nhận bức bưu ảnh của người “yêu trong mộng” gửi đến , thi sĩ họ Hàn chắc là mừng lắm, trong thâm tâm mong mỏi có một lời mời. Tấm bưu ảnh này có phải là một lời mời “ngầm” không?: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhưng thực ra đó chỉ là câu tự vấn lòng mình (thi sĩ biết rằng chẳng có một lời mời nào cả): “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” đi?  Để: “ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc”.
 “Nắng mới lên” không phải là nắng buổi sáng hàng ngày, mà sau suốt một mùa đông lạnh giá, sang xuân những tia nắng đầu mùa hiếm hoi sưởi ấm mùa xuân, cái “nắng mới lên” đầu mùa làm cây cối nẩy mầm xanh lá, cây cối như bừng tỉnh “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc”. Cái ý “ngầm” ở đây là sau một thời gian dài mười năm thi sĩ không nhận được  bất kỳ một tin tức nào của “người yêu trong mộng tưởng”, trái tim nhà thơ dường như đã “băng giá”  như mùa đông dài lạnh lẽo và bây giờ nhận được tấm bưu ảnh “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”. Cái “nắng mới lên” ấm áp ấy bừng dậy trong lòng, sưởi ấm trái tim muôn vàn đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần của thi sĩ, một hy vọng mới mẻ, mơ hồ, thức dậy trong tâm hồn dường như đã bị “đóng băng”.
      Tiếp câu thơ sau: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” thì lạ quá. Đang tả những hàng cau thẳng tắp, nắng mới chiếu lên lấp lánh trên những tàu lá, “vườn ai” đó xanh “mướt” “như ngọc”, cái “lá trúc” ở đâu mà lại “che ngang mặt chữ điền”. Vì câu thơ này mà nhiều nhà phê bình đã tốn bao giấy mực, tâm huyết để phân tích, tìm hiểu nó. Có người cho rằng “mặt chữ điền” là gương mặt tác giả đang “thập thò” nhìn ngắm “Vườn ai” bị “lá trúc che ngang” (“Vườn ai” là từ mở đầu của câu thơ: “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc”). Có người cho rằng “mặt chữ điền” là chữ “điền’ vẫn được khắc lên ở cổng nhà và bị “lá trúc che ngang”. Có người cho rằng Hàn Mặc Tử chiết tự chữ “điền”. Có người bình luận: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” là có con người xuất hiện, thiên nhiên bỗng trở nên sinh động hẳn lên. Cảnh đẹp, người đẹp.
      Theo tôi, câu thơ này đơn giản thôi, nó không phức tạp như chúng ta từng suy đoán, nếu chúng ta chú ý đọc kỹ nội dung tấm bưu ảnh Hoàng Cúc mô tả và mấy dòng trả lời Hoàng Cúc của Hàn Mặc Tử.  Đồng thời chú ý đến từ “Nhìn” trong câu “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên”.Tại sao lại “nhìn”? Ai nhìn? Tất nhiên là thi sĩ họ Hàn rồi. Vì ông tự vấn mình: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên. Không biết thi sĩ họ Hàn đã bao giờ đến thôn Vĩ Dạ chưa? Hay ông chỉ “nhìn” vào tấm bưu ảnh mà tưởng tượng ra tất cả? Cứ cho là như thế đi. “Nhìn” vào bức bưu ảnh không thấy “người yêu trong mộng” mà ông mong mỏi ao ước muốn thấy, nhưng chỉ thấy “một khóm tre” trước mặt “che ngang”, nên ông đã dùng hình ảnh rất “thơ” để diễn tả điều đó: “Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Điều này cho thấy một nỗi nhớ nhung da diết muốn thấy hình ảnh “nàng” đến mức như thế nào? Ta muốn “nhìn” thấy hình bóng “em”, nhưng trước mặt ta đã bị “lá trúc che ngang” mất “hình bóng em”, mọi thứ đã bị một tấm màn vô hình chắn ngang mất rồi! Trong trường hợp “cụ thể” của Hàn Mặc Tử lúc đó chỉ có thể nói “xa xôi” như vậy thôi.
      Khổ thơ thứ hai là những câu thơ triết lí về cuộc đời:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay;
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
     Lẽ thường “mây” phải theo “gió”, gió thổi mây bay, nhưng đó là trường hợp mây gió gần nhau, cặp kè bên nhau. Còn ở đây “gió” một phương “mây’ một nẻo, xa nhau vời vợi, nên “gió theo lối gió, mây đường mây”. Mỗi người một phương trời, mỗi người do hoàn cảnh, nên phải đi theo những hướng khác nhau mà cuộc đời tạo nên. “Em” “theo lối” “em”, “anh” theo “đường” “anh”. Cảnh đời thật trớ trêu. Buồn thật! “Dòng nước” trong tấm bưu ảnh “em” gửi cũng “buồn thiu”, chỉ thấy “hoa bắp lay” phơ phất.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
      Đọc hai câu thơ này, một lần nữa cho thấy thi sĩ Hàn Mặc Tử đã nhìn vào tấm bưu ảnh để sáng tác bài thơ. Bây giờ trong tâm tưởng thi sĩ họ Hàn cảnh vật trong tấm bưu ảnh ở bến Vĩ Dạ là một đêm trăng, chứ không phải lúc hừng đông. Như trong mấy hàng chữ ông gửi Hoàng Cúc: “Túc hạ, có nhận được bức ảnh: “Bến Vĩ Dạ lúc hừng đông (hay là một đêm trăng)”… “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó” thì rõ rồi. Đó là chiếc đò ngang với cô chèo đò, có mây nước trong tấm bưu ảnh. Còn câu “Có chở trăng về kịp tối nay?” là “chở trăng về” đâu? Và “chở” ai? “Trăng” là ai? “Trăng” là đặc trưng của thơ họ Hàn không lẫn vào đâu được, ông viết về trăng rất hay, trăng trong thơ ông biến ảo vô cùng. Ông là “thi sĩ trăng”, thơ ông có rất nhiều bài viết về trăng như: Uống trăng, Đà Lạt trăng mờ, Sáng trăng, Trăng vàng trăng ngọc, Ngủ với trăng, Say trăng, Rượu trăng, Trăng tự tử, Chơi trên trăng, Một miệng trăng, Một nửa trăng, Vầng trăng, Ưng trăng…
Trăng, Trăng, Trăng! Là Trăng, Trăng, Trăng!
Ai mua trăng tôi bán trăng cho
                                                       (Trăng vàng trăng ngọc)
Ta đuổi theo trăng
Trăng bay lả tả ngã lên cành vàng
Tới đây là tôi được gặp nàng
                                               (Rượu trăng)
Đêm qua trăng vướng trong cành trúc
Cô láng giềng bên chết thật rồi
                                                 (Cô gái đồng trinh)
Tôi ưng quá! Tôi ưng nàng,
Nàng xa xa lắm, ơi nàng Trăng ơi!
                                             (Ưng trăng)
“Trăng” là “nàng”, là “em”, là “người yêu trong mộng” của thi sĩ. Bây giờ ta biết “trăng” là ai rồi.“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay?”. “Chở trăng về kịp tối nay”cho ai? Còn ai vào đây nữa, “chở trăng về”, chở “em” về cho “người thơ”, cho thi sĩ họ Hàn chứ còn ai nữa.
      Đến khổ thơ thứ ba, khổ thơ cuối cùng:
Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Mộng và đời, mơ và thực cứ hòa quyện với nhau trong khổ thơ này. Một giấc “mơ” xa vời, vô vọng, đau đớn, “mơ” về người “yêu trong mộng” ở thôn Vĩ Dạ xa xôi, “mơ” một cuộc gặp mặt với “khách đường xa”. Thi sĩ “mơ” về cái thời “nàng” còn là học sinh “áo trắng”, lúc mới gặp “em” cách đây mười năm. “Áo em trắng quá” là nói về thời học sinh trong trắng, tinh khiết, lóng lánh như pha lê của “nàng”, mà thi sĩ trong lòng vẫn “tôn thờ” bấy lâu nay. Nhưng “Áo em trắng quá nhìn không ra” là sao? Tại sao “Áo em trắng quá” lại “nhìn không ra? Thi sĩ “nhìn không ra” cái gì? Thực ra lúc này thi sĩ đang nhìn bức bưu ảnh, trên bức bưu ảnh Hoàng Cúc gửi tặng, thi sĩ họ Hàn chỉ nhìn thấy cô lái đò, mà hình ảnh thi sĩ muốn thấy là “nàng” thì lại không “nhìn” thấy, “nhìn không ra”. Tại sao không có hình ảnh “em” trong bức bưu ảnh này, anh “nhìn” không thấy “em’. “Ở đây” (ở trong bức bưu ảnh) “sương khói mờ nhân ảnh”, “sương khói” của cuộc đời, của trầm luân kiếp người, của những thăng trầm, chìm nổi, cảnh đời đau khổ, hình ảnh con người mờ mịt trong “sương khói”, trong nỗi ly tán, trong đau khổ, dằn vặt,  hình ảnh của “em” cũng mờ mịt, xa vời…
      “Ai biết tình ai có đậm đà?”, chỉ là một “mối tình đơn phương” của chàng “thi sĩ đa tình”, chẳng có ước hẹn, không hẹn hò, đã mười năm trôi qua, thế mà vẫn tự vấn lòng mình, hỏi mình, hỏi người: “Ai biết tình ai có đậm đà?”. “Tình yêu đơn phương” càng tha thiết, càng nặng lòng, thì càng đau khổ thất vọng đến khốn khổ.
      Để hiểu đến tận cùng của bài thơ là điều không dễ dàng gì. Bài thơ khép lại, để lại trong lòng người đọc một nỗi buồn man mác, xen lẫn xót xa, cảm phục và cũng thật buồn cho số phận con người.

1.Thơ Quê hương và những lời bình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009, trang 189.
2.Mã Giang Lân, Thơ hiện đại Việt Nam những lời bình, NXB Giáo dục, 2005, trang 85.
      3.Trần Văn Lý, Cảm nhận thi ca, NXB Thanh niên, 2006, trang 9.
4.Trần Ngọc Hưởng, Đến với thơ hay, NXB Đồng Nai, 2004, trang 94.