Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020

Hai kinh đô thời Gia Tĩnh trong Truyện Kiều và kiến trúc sư trưởng người Việt Nam xây dựng Tử Cấm Thành


HAI KINH ĐÔ THỜI GIA TĨNH TRONG TRUYỆN KIỀU
VÀ KIẾN TRÚC SƯ TRƯỞNG 
NGƯỜI VIỆT NAM
XÂY DỰNG TỬ CẤM THÀNH

                                       LÊ THANH LONG

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du giới thiệu về thời gian câu chuyện xẩy ra có câu thơ:
9. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Sau đó trong lời kể của lại già họ Đô với Kim Trọng, về sự lưu lạc của Thúy Kiều, Nguyễn Du còn nói rõ kinh đô đó là Bắc Kinh trong câu thơ:
2889. “Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
             Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về,”
Có người cho rằng thời Gia Tĩnh hai kinh là Kim Lăng và Yên Kinh chứ không gọi là Nam Kinh và Bắc Kinh như sau đó và ngày nay. Không ít người còn chưa hiểu rõ, nên khi viết về Truyện Kiều cũng hay gọi hai kinh đô là Kim Lăng (Nam Kinh) và Yên Kinh (Bắc Kinh). Nói như thế chẳng hóa ra là Nguyễn Du viết sai.
Vậy hai kinh thời Gia Tĩnh, lúc sự việc xẩy ra trong Truyện Kiều, thực sự tên là gì và được xây dựng vào lúc nào?
Gia Tĩnh là niên hiệu vua Thế Tông nhà Minh (1522 - 1566). Nhà Minh (1368 - 1644). Năm 1368 Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lập ra Đại Minh, đăng quang tại phủ Ứng Thiên, đổi tên Kim Lăng thành Nam Kinh. Minh Thành Tổ (1402 - 1424) cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh, đổi tên thành Bắc Kinh. Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh được xây dựng từ năm 1406 - 1420 thì hoàn thành.
Như vậy Kim Lăng được Chu Nguyên Chương đổi tên thành Nam Kinh vào năm 1368. Còn Yên Kinh được Minh Thành Tổ đổi tên thành Bắc Kinh vào năm 1402 và xây dựng xong Tử Cấm Thành vào năm 1420.
Như vậy tên Nam Kinh (1368) và Bắc Kinh (1402) có trước cả thời Gia Tĩnh triều Minh (1502 - 1566). Nguyễn Du hoàn toàn chính xác khi nói về hai kinh là Nam Kinh và Bắc Kinh thời Gia Tĩnh.
Minh Thành Tổ mất sau khi Bắc Kinh xây xong được 4 năm. Năm 1421 hoàng đế Vĩnh Lạc chuyển vào sống trong quần thể cung điện và Bắc Kinh trở thành thủ đô mới. Từ đây, Tử Cấm Thành lần lượt được cai trị bởi 24 vị vua (giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh). Năm 1912, hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc thoái vị
Minh Thành Tổ khi lên ngôi dời kinh đô lên phía bắc, ông muốn xây dựng một Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh thật hoành tráng chưa từng có, sánh ngang trời đất, chỉ trong một thời gian ngắn. Các công trình sư bị một sức ép rất lớn về thời gian và quy mô là phải xây dựng một Tử Cấm Thành rộng lớn hoành tráng và nhanh nhất. Minh Thành Tổ muốn vua chư hầu đến Bắc Kinh nhìn thấy sự hùng tráng của Tử Cấm Thành, để tạo cho họ ấn tượng là bản thân mình thật nhỏ bé và Đại Minh thật vĩ đại. Ngày nay những người đến tham quan chiêm ngưỡng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh đều có ấn tượng, là cảm thấy mình thật nhỏ bé trước khung cảnh mênh mông rộng lớn và vĩ đại của nó.


Thành Tổ (1402 - 1424) đời Minh cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh đổi tên thành Bắc Kinh. Tử Cấm Thành Bắc Kinh được xây dựng trong 14 năm, từ năm 1406 - 1420 thì hoàn thành.
Tử Cấm Thành có diện tích là 720.000 m2, gồm 800 cung, 9999 phòng, số nhân lực xây dựng ước khoảng 1 triệu người.
Thành Bắc Kinh có lịch sử lâu đời và phong phú, nó được thành lập từ cách nay 3.000 năm, trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa vào năm 221 TCN. Bắc Kinh là thủ đô của nước Kế rồi nước Yên trong hàng thế kỷ. Nhà Đường năm 759 và nhà Nguyên năm 1215 gọi là Yên Kinh, đến nhà Minh năm 1406 gọi là Bắc Kinh.
Tử Cấm Thành được thiết kế bởi nhiều kiến trúc sư và nhà thiết kế. Các kiến trúc sư trưởng là Sái Tín, Trần Khuê, Ngô Trung và thái giám Nguyễn An (một người Việt Nam), còn các tổng công trình sư là Khoái Tường và Lục Tường.


Năm 1407, hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh sang xâm lược Việt Nam, đánh bại nhà Hồ. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc, còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn,...
Theo "Minh Sử", Nguyễn An (1381 - 1453) người vùng Hà Đông (Hà Nội, Việt Nam ngày nay) là người có công lớn trong việc xây dựng Tử Cấm Thành.
Năm Vĩnh Lạc 14 (1416) theo lệnh của Minh Thành Tổ, Nguyễn An khi ấy mới ngoài 30, đã được giao trọng trách làm kiến trúc sư trưởng xây dựng thành Bắc Kinh mới (Cố Cung). Ông cùng với các kiến trúc sư trưởng khác xây dựng Tử Cấm Thành. Hàng triệu nhân công đã làm việc trong suốt 14 năm để hoàn thành công trình phức tạp và tốn kém này. Năm 1421, hoàng đế chuyển vào sống trong quần thể cung điện và Bắc Kinh trở thành thủ đô mới.
Nguyễn An (1381-1453), còn gọi là A Lưu tên gọi ở Trung Hoakiến trúc sư thời xưa, người Việt. Ông cùng với Sái Tín, Trần Khuê, Ngô Trung là những kiến trúc sư trưởng xây dựng Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc.
Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông, nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Năm 1407, nhà Minh sang đánh bại nhà Hồ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc, còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, Nguyễn An bị bắt sang  làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh.
Nguyễn An không những tham gia xây dựng Tử Cấm Thành thời Minh Thành Tổ (1402-1424) mà còn tham gia trùng tu sửa chữa, xây mới nhiều công trình về sau này.
Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng Thành nội tức là Hoàng thành (thêm hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ, và dinh thự công sở các ty), Thành ngoại với 9 cửa kinh sư: cửa Chính Dương (có 1 chính lầu và 3 gian Nguyệt thanh lâu), và các cửa: Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng (mỗi cửa này đều có 1 chính lầu và 1 Nguyệt thanh lâu (lầu ngắm trăng)). Công việc trên được ông chỉ huy thực hiện hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh cho xây dựng và trùng tu ba điện: Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, cùng hai cung: Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 năm sau (1441) thì công việc này xong, vua nhà Minh thưởng cho Nguyễn An: 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống 10 (1445), ông lại được giao xây dựng lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt.
Nguyễn An còn xây dựng các công trình trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà
Các công trình do Nguyễn An thiết kế và xây dựng ở Trung Quốc
+ Cửa Chính Dương, còn gọi là Tiền Môn, ở phía Nam quảng trường Thiên An Môn, ngày nay vẫn còn tồn tại, là cửa chính trong 9 cửa của Ngoại thành (thành ngoài) đều do ông xây dựng năm 1437 - 1439.
+ Ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái và Cẩn Thân, được xây năm 1417 - 1420, trùng tu 1440 - 1441, đến triều đại nhà Thanh được đổi tên lần lượt thành Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa.
+ Hai cung Càn Thanh cung và Khôn Ninh cung, được xây năm 1417 - 1420, trùng tu năm 1440 - 1441.
+ Dinh thự công sở các cơ quan triều đình: phủ Tôn Nhân, Bộ LạiBộ LễBộ HộBộ BinhBộ HìnhBộ Công, Hồng Lô Tự, Khâm Thiên Giám, Viện Thái Y, Viện Hàn Lâm và Quốc Học (Quốc Tử Giám)... Trong các công trình này, nay còn lại Quốc Học tức là Thư viện Thủ đô Bắc Kinh ngày nay.
+ Thành trì Bắc Kinh thời đó có chu vi 68 dặm. Những năm Vĩnh Lạc (Minh Thành Tổ (1403-1424)) và Tuyên Ðức (Minh Tuyên Tông (1426-1435)) được xây phía ngoài bằng gạch, nhưng bên trong tường thành vẫn còn làm bằng đất, nên gặp phải khi mưa dầm lụt lội, tường thành thường hay sụp đổ. Nguyễn An xây dựng, tu sửa lại cả phía trong và phía ngoài, tường thành Bắc Kinh từ đó cao đến 3 trượng 5 thước (dưới triều nhà Minh mỗi thước dài 31,1 cm, nên 3 trượng rưỡi tức là bằng 10,885 m), nền tường thành dày 6 trượng 2 thước (19,280 m), mặt thành rộng 5 trượng (15,550 m).
Minh sử quyển 304 - Liệt truyện 192 - Hoạn quan nhất chép về ông rất ngắn (sau Trịnh Hòa, Hầu Hiển, Kim Anh, Hưng An, Phạm Hoằng, Vương Cấn), nhưng có đề cập tới việc xây dựng thành trì, cung điện, các sở quan tại Bắc Kinh cũng như trị thủy…
Năm 1453, niên hiệu Cảnh Thái thứ tư, đời vua Minh Đại Tông (Cảnh Đế) (1450 - 1456), sông Trương Thu ở Sơn Đông vỡ đê, tu sửa mãi không xong, ông lại được vua nhà Minh cử đến đó để trị thủy rồi mất ở dọc đường.
Nguyễn An là người hết lòng vì công việc, tận tụy, cần mẫn, thanh bạch, liêm khiết, trước khi mất, Nguyễn An trăn trối: đừng xây lăng mộ cho ông như những người có công thời ấy thường làm, mà nên đem toàn bộ của cải của ông góp vào quỹ công, để phát chẩn cho dân bị lụt ở Sơn Đông, những nơi ông đang đi mà chưa tới.
Nhà sử học Trương Tú Dân (Trung Quốc) đánh giá về công lao và đức độ của Nguyễn An và nỗi buồn nhân thế đối với một con người phải lưu lạc tha hương:
"Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan trăm ngàn người không được một. Còn An hết lòng vì công việc, thanh bạch, liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không có nén vàng nào trong túi, là một con người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Kinh. Nguyễn An là người kiệt xuất trong hoạn quan, công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay tên Tam Bảo thái giám, đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên nhà đại kiến trúc Nguyễn An - A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay. Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên."
Sách Thủy đông nhật ký của Diệp Thịnh đời Minh có chép: "Nguyễn An, cũng gọi là A Lưu, người Giao Chỉ, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc. Trong các công trình xây dựng thành trì Bắc Kinh và chín cửa thành lầu, hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ ở Bắc Kinh và nạo vét sông Trạch Chư ở thôn Dương, đều có nhiều công lao to lớn. Các nhân viên thuộc hạ của Nguyễn An ở Bộ Công chẳng qua chỉ là những người thừa hành phận sự, thực hiện những công trình do Nguyễn An quy hoạch, thiết kế ra đó thôi".

                              Hà Nội ngày 8.01.2020
                                    LÊ THANH LONG

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2019

NGHI VẤN XUNG QUANH TRUYỆN KIỀU


NGHI VẤN XUNG QUANH TRUYỆN KIỀU

                                        LÊ THANH LONG

Truyện Kiều ra đời cách nay đã hơn 200 năm, tuy vậy còn có những nghi vấn quanh nó vẫn chưa được làm sáng tỏ:
1. Có phải Nguyễn Du đã đưa “Đoạn trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích khắc in hay không?
2. Truyện Kiều được lưu hành ra bên ngoài sớm nhất vào lúc nào?
3. Truyện Kiều được khắc in sớm nhất vào lúc nào?
Nhiều tài liệu nói “Đoạn trường tân thanh” Nguyễn Du đã giao cho bạn là Phạm Quý Thích khắc in tại Hà Nội. Bản này đến nay cũng không còn hay là không có. Hiện nay mới thu thập được các bản khắc in sớm nhất là: 1. Bản Liễu Văn Đường khắc in năm 1966, 1871, 1879, 2. Bản Duy Minh Thị khắc in năm 1872, 1879. 3. Bản Thịnh Mỹ Đường khắc in năm 1879. Các bản này đều khắc in thời Tự Đức (1847 - 1883), 4. Độc bản chép tay, mỗi trang đều có minh họa, rất đẹp, ở luân Đôn, năm 1894, cũng đã được in ra năm 2016.
Tự Đức (1829 - 1883) tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thì, là vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn.
“Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh”.
Thời Minh Mạng (1820 - 1840) không tìm thấy bản khắc in Truyện Kiều nào, mà chỉ có những bản chép tay được lưu truyền.
Phạm Quý Thích (1760 - 1825), đậu tiến sĩ năm 1779, làm quan giữ chức Thiêm sai tri công phiên. Gia Long lên ngôi, ông được bổ làm đốc học, được ít lâu thì xin từ chức. Đầu đời Gia Long (1802) vời ông ra, ông từ chối không được, giữ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An Hầu, trông coi việc chép sử (1811). Ít lâu, ông cáo quan về quê. Đầu đời Minh Mạng (1821) lại vời ông ra, ông đang bệnh, lấy cớ ấy từ chối, từ đó ông chăm lo việc dạy học ở quê nhà, đào tạo được nhiều trí thức như Nguyễn Văn Lữ, Nguyễn Văn Siêu, Vũ Tông Phan...
Phạm Quý Thích là bạn thân của danh sĩ Nguyễn Du. Chính ông là người đầu tiên đem Truyện Kiều ra bình phẩm với học trò, làm bài thơ Đoạn trường tân thanh hữu cảm (thường gọi là Tổng vịnh Truyện Kiều).
Phạm Quý Thích mất sau Nguyễn Du năm năm (1820 và 1825), có lẽ ông cũng chỉ được đọc “Đoạn trường tân thanh” qua bản chép tay.
Bài thơ vịnh Kiều của Phạm Quý Thích có tên là “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm”.
Phiên âm:
Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường
Bán thế yên hoa trái vị thường.
Ngọc diện khởi ưng mai Thủy quốc,
Băng tâm tự khả đối Kim lang.
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,
Tân thanh đáo để vị thùy thương?
Dịch xuôi:
Người đẹp phải đâu tới Tiền Đường
Món nợ nửa kiếp gái lầu xanh chưa được trả
Mặt ngọc sao nỡ vùi nơi đáy nước
Lòng băng tuyết tự thấy xứng đáng với chàng Kim
Nỗi đau đứt ruột trong mộng, căn duyên nay đã hết
Khúc đàn bạc mệnh chấm dứt, oán hận còn dài lâu
Một mảnh tài tình tự ngàn xưa mang lụy cho người
Cuối cùng, tiếng mới dành cho ai nỗi đau thương?
Dịch thơ:
Phải đâu gái đẹp đến Tiền Đường
Nửa kiếp lầu xanh nợ vẫn vương
Mặt ngọc sao đang vùi sóng nước
Lòng son tự thấy xứng Kim lang
Đoạn trường mộng báo căn duyên hết
Bạc mệnh đàn ngưng oán hận trường
Một mảnh tài tình muôn thuở lụy
Cuối cùng tiếng mới vị ai thương?
Những tập Truyện Kiều khắc in về sau này có bài “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” đặt ở đầu sách lại viết là “Đề từ” nên dễ lầm tưởng Phạm Quý Thích đã khắc in “Đoạn trường tân thanh”. Đề từ thực chất cũng là một bài thơ vịnh, chỉ khác ở chỗ là tên bài thơ do chính tác giả đặt để tôn vinh tác phẩm và đặt ở đầu sách.
Không biết thông tin Nguyễn Du đưa “Đoạn Trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích in là dựa vào tư liệu nào, hay chỉ dựa vào bài thơ “Thính Đoạn trường tân thanh hữu cảm” rồi phỏng đoán ra?
Phạm Quý Thích cùng thời với Nguyễn Du, mất sau Nguyễn Du 5 năm (1825), đã được đọc “Đoạn Trường Tân thanh” của Nguyễn Du. Vậy “Đoạn trường tân thanh” được lưu truyền trước khi Nguyễn Du mất hay sau khi Nguyễn Du mất?
Có lẽ thời Minh Mạng Truyện Kiều chưa được khắc in, mà chỉ được lưu truyền qua những bản chép tay. Nguyễn Du liệu có đưa tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích khi còn sống hay Phạm Quý Thích được đọc qua tủ tư liệu của triều Nguyễn thu được khi Nguyễn Du mất, hay một người nào của triều Nguyễn đưa cho?
Nguyễn Văn Thắng đậu tiến sĩ năm Minh Mạng thứ 7 (1826). Năm 1830 phải tội bị hạ ngục và soạn ra bài “Tựa Kim Vân Kiều án”, có đoạn “…Mùa đông năm Canh Dần (1830), tôi bị hạ ngục, suốt ngày ngồi ngây, không biết lấy gì để khuây khỏa. Nhân thường đọc Truyện Kiều Nôm nay cũng lĩnh hội được lời lẽ, rồi ngẫm kỹ về văn chương… “, không biết Nguyễn Văn Thắng có được bản Kiều chép tay từ lúc nào, tất nhiên là trước năm 1830.
Tại sao Nguyễn Du khi còn sống không tự khắc in tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của mình? Đây là câu hỏi rất lớn và quan trọng để giải quyết vấn đề.
Rất nhiều nghi vấn về sự ra đời của cuốn sách “Đoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du. Bản thảo chính của Nguyễn Du không còn nữa. Từ trước đến nay người ta cho rằng bản “Đoạn trường tân thanh” mà Nguyễn Du giao cho Phạm Quý Thích khắc in tại Hàng Gai, Hà Nội đề là “Kim Vân Kiều tân truyện” nay cũng không còn.
Bản kinh là bản chép tay Đào Nguyên Phổ đã đem từ Huế về Hà Nội (1895).
Bản của Nguyễn Hưng Lập (Lâm Nọa Phu) chép tay năm 1870 ở kinh đô Huế, khi đang làm ở bộ Công dưới triều Tự Đức, gọi là bản kinh. Bản kinh không được in ra, mà chỉ được chép tay, như Đào Nguyên Phổ đã kể lại cảnh người ta “tranh nhau sao chép đễn nỗi giá giấy đắt như giấy quý Lạc Đô”. Bản kinh chép tay ở kinh đô này có khác biệt so với bản phường. Nó được vua quan triều Tự Đức nhuận sắc và để lại dấu ấn trong các bản Kiều này.
Chưa thấy công bố tìm thấy một bản khắc in nào trong thời Minh Mạng.
Trong cuốn Truyện Thúy Kiều, hai ông Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim viết: "Hiện nay tập nguyên văn của tác giả làm ra thì không tìm thấy nữa, chỉ có hai bản khác nhau ít nhiều, là bản Phường, in ở phố Hàng Gai, Hà Nội, và bản Kinh của vua Dực Tôn bản triều đã chữa lại". "Bản Phường là bản của ông Phạm Quý Thích đem khắc in ra trước hết cả. Ông hiệu là Lập Trai, người làng Huê Đường, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, đỗ tiến sĩ về cuối đời Lê, cùng với tác giả là bạn đồng thanh tương khí, cho nên khi quyển truyện này làm xong, thì tác giả đưa cho ông xem. Chắc cũng sửa lại một vài câu, nhưng xem lời văn thì chỗ nào cũng một giọng cả".
Không biết ông Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim dựa trên cơ sở nào mà nói “cho nên khi quyển truyện này làm xong, thì tác giả đưa cho ông xem”, tức Nguyễn Du đưa cho Phạm Quý Thích xem, có lẽ hai ông cũng chỉ phỏng đoán vậy thôi, chắc cũng không có trong tay bản phường của Phạm Quý Thích.
Những bản Truyện Kiều khắc in có được hiện nay đều là ở thời Tự Đức, gọi là bản phường.
Hiện nay có ba bản in ở đời Tự Đức là xưa nhất (1866, 1871, 1872).
Những bản khắc in đầu tiên đều có tên là “Kim Vân Kiều tân truyện”. Bản Liễu Văn Đường khắc in năm 1866, 1871, bản Duy Minh Thị khắc in năm 1872, 1879.
Kim Vân Kiều truyện quốc ngữ Trương Vĩnh Ký in 1875 tại Sài Gòn.
Những bản khắc in sau này có tên là “Đoạn Trường tân thanh”, sau đó gọi là Truyện Kiều. Các bản in của Duy Minh Thị năm 1879, Tăng Hữu Ứng năm 1874, Abel des Michels năm 1884, Kiều Oánh Mậu năm 1902, Quan Văn Đường thời Hiền Thi Tự năm 1906, Phúc Văn Đường năm 1918, Quang tập Liễu Văn Đường 1924, Quan Văn Đường năm 1925, Truyện Thúy Kiều, Nam Phong in năm 1922.
Năm 1924 Vũ Đình Long, Phạm Quỳnh gọi là Truyện Kiều. Tên Truyện Kiều xuất hiện từ những năm 20 của thế kỷ 20.
Lời tựa cuốn “Đoạn trường tân thanh” của Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ (sinh năm 1860) viết năm 1898, niên hiệu Thành Thái. Nguyễn Văn Vĩnh người đầu tiên dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp, in năm 1913.
Theo Nguyễn Quảng Tuân: Việc công bố bản Kinh do Lâm Noạ Phu sao chép cũng đem lại những thông tin mới. Trong Lời Tựa, câu: Thị... xuất tự Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du Tố Như ông thủ thảo, lưu truyền ngũ (thập niên) vu tư... (Bản Kiều này xuất xứ từ chính thủ bút của Hồng Sơn liệp hộ Nguyễn Du được lưu truyền từ 50 năm nay... đã cho ta thấy rằng đây có thể là bản được chép từ bản gốc, bản tác giả và bản này lưu truyền đã 50 năm nay (tính từ năm 1870 ngược lại đến năm 1820, năm Nguyễn Du mất).
Thực ra đoạn trích trong Lời tựa đó cũng chỉ cho ta biết thông tin “Đoạn trường tân thanh” được lưu truyền sau khi Nguyễn Du mất, đã được 50 năm.
Nguyễn Du có thật sự đưa “Đoạn trường tân thanh” cho Phạm Quý Thích để in năm 1820 hay không?
Sau khi Nguyễn Du mất, triều đình nhà Nguyễn đã cử người đến tịch thu toàn bộ tư liệu của Nguyễn Du, niêm phong và đưa đi.
Sách Đại Nam thực lục chính biên cho biết: “Canh Thìn, năm Minh Mạng thứ 1 (1820), mùa thu…Vua dụ bầy tôi rằng: “Gần đây lệ khí lan tràn từ Gia Định trở ra đến Quảng Bình nhiều người ốm chết, trẫm nghe thấy rất lấy làm thương…
Hữu Tham tri Bộ Lễ là Nguyễn Du chết. Du là người Nghệ An học rộng giỏi thơ, càng giỏi về quốc ngữ. Nhưng là người nhút nhát, mỗi khi ra mắt vua thì sợ sệt không hay nói gì… Đến bây giờ có mệnh sai sang nước Thanh, chưa kịp đi thì chết. Vua (Minh Mạng) thương tiếc, cho 20 lạng bạc, 1 cây gấm Tống. Khi đưa tang về lại cho thêm 300 quan tiền”.
Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì..."
Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời vì bệnh dịch tả.
Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì."
Nguyễn Du từng biết làm thuốc kiếm sống. Cha của Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708- 1776) cũng bị chết vì bệnh dịch tả. Năm 1776 Nguyễn Nhiễm đánh trận về bị lâm trọng bệnh dịch tả qua đời cùng với danh tướng họ Trịnh Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc.
Hơn ai hết Nguyễn Du thấu hiểu bệnh tình của mình. Nguyễn Du là người có kiến thức uyên bác lại từng là thày thuốc, ông biết chắc rằng không uống thuốc sẽ dẫn đến đâu. Vậy tại sao ông lại từ chối uống thuốc? Một con người đang trên đường thăng tiến, đang được cử đi sứ sang Trung Quốc, được trọng vọng. Cái lý do từ chối uống thuốc chắc phải lớn lao, ghê gớm đến mức nào, để Nguyễn Du phải đổi cả cuộc sống của mình để lấy cái đó. Ông bình thản đón nhận và biết việc gì sẽ tới, ông biết lịch sử cuộc đời mình sẽ sang một trang khác và tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” của mình sẽ được phổ biến, lưu truyền và sẽ được khắc in sau khi mình qua đời.
Nguyễn Du chết do bệnh dịch tả thời đó đã làm chết 20 vạn người, chết do bệnh dịch không có gì đáng nói. Nhưng cái cách ra đi của Nguyễn Du bình thản, không lời trăng trối, mặc dù có con và người nhà làm quan, lại là điều khác lạ, đặc biệt, làm ta phải suy nghĩ.
Nguyễn Du biết khi mình còn sống thì “Đoạn Trường tân thanh” không thể ra đời. Nếú công bố “Đoạn trường tân thanh” ra, Nguyễn Du sẽ bị xử chết và gây thảm họa cho cả gia đình, dòng họ. Chỉ có một cách duy nhất để “Đoạn trường tân thanh” ra đời và tồn tại, được lưu truyền, là sau khi mình chết. Nguyễn Du thấu hiểu điều đó và có lẽ ông đã chọn được đúng thời điểm để ra đi. Con người kỳ lạ cũng chọn cho mình cách thức kỳ lạ ra đi để tác phẩm của mình ra đời và trường tồn. Nó như một câu chuyện tình ly kỳ lãng mạn.
Sau khi Nguyễn Du mất chỉ vài chục năm, vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của Nguyễn Du để đưa về kinh.
Tương truyền, vua Tự Đức là người rất mê Truyện Kiều, như mê “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng / Xếp tàn y lại để dành hơi”. Nhưng khi đọc đến câu thơ Nguyễn Du viết về Từ Hải: “Dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, nhà vua đập bàn quát: “Bắt ngay Nguyễn Tiên Điền vào đây cho ta, quất cho 20 roi để gã biết trên đầu còn có ai hay không?”. Quan hầu thưa: “Muôn tâu Hoàng thượng, Nguyễn Tiên Điền tịch đã khí lâu rồi thưa Hoàng thượng!”. Nhà vua không thể rút lệnh đánh roi Nguyễn Du về được, bèn phán: “Treo cái án 20 roi ta ban cho Nguyễn Du lên giữa giời, để bọn văn nhân thi sĩ đời sau nhìn thấy gương tày liếp này mà liệu liệu cái thân phận bút nghiên thấp cổ bé họng thi với phú cứ thích chơi trèo!”.
Điều này cho thấy Nguyễn Du không thể tự in hoặc phổ biến “Đoạn Trường tân thanh” ra bên ngoài khi còn sống.
Nên chăng các nhà Kiều học cần làm rõ những điều gì là chân thực của các tư liệu và cứ liệu và những gì là ngộ nhận, để chúng ta ngày càng tiến gần hơn đến sự thật.
                                               Hà Nội ngày 21.12.2019
                                                  LÊ THANH LONG

Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

SÁCH MỚI RA "Gió sương ấm lạnh Truyện Kiều"


SÁCH MỚI RA
“Gió sương ấm lạnh Truyện Kiều”
Truyện Kiều ra đời cách nay 200 năm, thời gian như nước chảy mây trôi, đã có biết bao nhiêu sự biến đổi về lịch sử, văn hóa, con người… Truyện Kiều như một cây tùng xanh vẫn sừng sững bên trời.
Hai trăm năm - một tác phẩm với hàng ngàn công trình nghiên cứu khen chê lớn nhỏ, trải dài trong suốt hơn hai trăm năm từ khi ra đời cho đến nay. Không ai có thể nói hết được cái hay, cái huyền bí, kỳ lạ của Truyện Kiều. Sự tranh luận khen chê làm nên sự hấp dẫn của nó.

Cuốn sách “Gió sương ấm lạnh Truyện Kiều” nội dung chủ yếu nêu lên sự khác biệt giữa Kim Vân Kiều truyệnTruyện Kiều trên phương diện ngôn ngữ thơ và trả lời ông Đổng Văn Thành, Trung Quốc về những đánh giá không đúng của ông về một số câu thơ trong Truyện Kiều.


Trong những năm gần đây có cuộc tranh luận giữa giáo sư Đổng Văn Thành với các học giả Việt Nam. Cuộc tranh luận bắt đầu nổ ra khi giáo sư văn học Trung Quốc tại trường đại học Liêu Ninh cho công bố lần đầu tiên trên Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng, số 4 (tháng 6.1986) và số 5 (tháng 9.1987) bài viết “So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam”. Bài viết này đã được nhà nghiên cứu PGS. Phạm Tú Châu dịch sang tiếng Việt. Bản dịch lúc đầu chỉ được lưu hành dưới dạng bản thảo đánh máy và sau đó mới được in trong cuốn “200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều”, NXB Giáo dục, Hà Nội 2005. Mặc dù không được công luận văn học rộng rãi biết đến, bài viết của học giả Trung Quốc này đã gây ra những chấn động lớn trong giới nghiên cứu văn học cổ điển Việt Nam. Nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều ra đời trong thời gian này ở Việt Nam là những “đối thoại ngầm” với tác giả Đổng Văn Thành.
Từ khi ông Đổng Văn Thành đưa ra vấn đề so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều đến nay cũng đã 32 năm trôi qua (1986 - 2018) và bài viết này cũng phải qua 19 năm mới được công bố chính thức ở Việt Nam (1986 - 2005). Qua đó ta thấy vấn đề này khá tế nhị, có nhiều điều phải đắn đo, lo ngại, thận trọng…
Đến nay các công trình nghiên cứu mới đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề và góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng nghiên cứu giá trị đích thực của Truyện Kiều và Nguyễn Du. Tuy nhiên vẫn còn có nhiều vấn đề cần được bàn thảo thêm.
Do đây là cuốn sách viết có tính chất phổ thông cho rộng rãi quần chúng yêu Truyện Kiều và Nguyễn Du đọc, nên tác giả chỉ trich dẫn những tài liệu chính.
Cuốn sách được chia làm 18 chương.
Trong đó chương I nói về tác giả và tác phẩm Thanh Tâm Tài Nhân và Nguyễn Du.
Chương II nói về bài viết của ông Đổng Văn Thành và chương IV là những trả lời của tác giả về những câu thơ trong Truyện Kiều mà ông Đổng Văn Thành hiểu không đúng.
Mười bốn chương còn lại nói về nghệ thuật Truyện Kiều. Đó là phần chính của cuốn sách, phần này là những nghiên cứu riêng của bản thân tác giả về Truyện Kiều và Nguyễn Du.
Sự khác biệt giữa Kim Vân Kiều truyệnTruyện Kiều, nếu nói một cách hình ảnh, thì Nguyễn Du chỉ lấy bộ khung của Kim Vân Kiều truyện, rồi đắp thêm da, thêm thịt, thay bộ não mới để thành một Truyện Kiều toàn mỹ. Cũng tương tự như thế, cô Kiều trong Kim Vân Kiều truyện được thay hình đổi dạng, bồi đắp thêm tri thức, tấm lòng nhân văn yêu mến con người và nội tâm đa dạng, để thành một cô Thúy Kiều mới đa diện của Truyện Kiều Nguyễn Du.
Nghệ thuật Truyện Kiều là nghệ thuật của thơ lục bát, những đặc trưng ngôn ngữ thơ của riêng Nguyễn Du. Thơ lục bát Nguyễn Du là thơ tả thực, thơ tượng trưng, ước lệ, ẩn dụ, câu chữ tinh diệu, cảnh có tình, phân tích tâm lý nhân vật và miêu tả nội tâm một cách tài tình…
Hai khác biệt quan trọng nhất là diễn tả nội tâm và ngôn ngữ thơ của Nguyễn Du so với Thanh Tâm Tài Nhân.
Đọc Truyện Kiều ta nhận ra, bất kỳ loại hình nào từ tả cảnh, tả tình, miêu tả tâm lý nhân vật, miêu tả hình dáng, tính cách nhân vật, độc thoại, kể chuyện, trần thuật… không nhiều thì ít, Nguyễn Du đều dùng phương pháp tượng trưng, ước lệ, ẩn dụ tu từ, vì vậy đọc hết 3254 câu thơ lục bát ta không hề thấy chán, từ đầu đến cuối luôn thấy mới và hấp dẫn.
Nguyễn Du là bậc thầy phân tích tâm lý. Thơ độc thoại miêu tả nội tâm, tâm trạng, nỗi lòng nhân vật thần diệu trong Truyện Kiều tràn ngập khắp nơi, lên tới 578 câu, chiếm trên 17,76%; một tỉ lệ rất cao và hết sức đặc biệt trong một truyện thơ.
Nguyễn Du đã sáng tạo ra một loại hình thơ lục bát mới. Ông là một thiên tài thơ - một đại thi hào dân tộc. Truyện Kiều đã tồn tại 200 năm và sẽ còn tồn tại mãi mãi là minh chứng cho giá trị đích thực của Truyện Kiều - một kiệt tác văn chương.
Thơ lục bát là loại hình thơ của riêng dân tộc Việt Nam được Nguyễn Du nâng lên tầm cao tuyệt đỉnh. Nguyễn Du xứng đáng được UNESCO vinh danh danh nhân văn hóa thế giới.
Ngoài ra, đời thực và nội tâm sâu kín của Nguyễn Du qua những vần thơ chữ Hán cũng được tác giả phân tích làm sáng rõ những nội dung ẩn chứa sau những con chữ.
Cuốn sách ra đời, mong có thêm một vài món ăn tinh thần khác khẩu vị. Độc giả sẽ được đọc những điều mới mẻ bổ ích, lý thú, chưa từng được đọc.
“Gió sương ấm lạnh Truyện Kiều”
Thời gian mới tỏ sáng điều ẩn sau.
Trăm năm mấy cuộc bể dâu
Những điều Người thấy còn đau đến giờ!

Liên hệ: Lê Thanh Long 0822098772

Sau đây chúng tôi đăng tóm tắt một đoạn trong cuốn sách:

CHỮ NGHĨA TRONG TRUYỆN KIỀU
                                                                      
Truyện Kiều ra đời cách nay 200 năm, thời gian như nước chảy mây trôi, đã có biết bao nhiêu sự biến đổi về lịch sử, văn hóa, con người… Truyện Kiều như một cây tùng xanh vẫn sừng sững bên trời.
Hai trăm năm - một tác phẩm với hàng ngàn công trình nghiên cứu khen chê lớn nhỏ, trải dài trong suốt hai thế kỉ từ khi ra đời cho đến nay. Không ai có thể nói hết được cái hay, cái huyền bí, kỳ lạ của Truyện Kiều. Sự tranh luận khen chê làm nên sự hấp dẫn của nó.
Trong phạm vi bài viết này tôi xin đưa ra ý kiến riêng của mình về một vài câu chữ đang còn có nhiều ý kiến khác nhau. Đó là các từ ngậm gương, dàu dàu, áy, các câu thơ “Khi khóe hạnh khi nét ngài”, “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”.
1. Ngậm gương là gì?
Các từ ngữ Nguyễn Du sáng tạo trong Truyện Kiều hết sức độc đáo, vẫn làm cho người đọc ngày nay ngỡ ngàng, thán phục, như câu thơ:
1091. Chim hôm thoi thót về rừng
Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành
Chữ “thoi thót” cho đến ngày nay chưa có ai dùng.
Hai câu thơ trên Nguyễn Du tả thời khắc Thúy Kiều đợi Sở Khanh đến đón đi trốn khỏi lầu Ngưng Bích.
 “Thoi thót” chỉ sự vội vã, lẻ tẻ, rời rạc từng con, từng đôi chim đang gấp gáp bay về tổ. “Thoi thót” chỉ buổi chiều hôm chập choạng, ánh sáng sắp tắt, đêm tối sắp ập đến, ánh ngày sắp tắt.
Thúy Kiều đợi Sở Khanh từ lúc hoàng hôn, khi “Chim hôm thoi thót về rừng”, đến lúc trăng mọc, lên cao dần và đến khi “Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành”.
Câu thơ này không phải là câu thơ dễ hiểu. “Đóa trà mi đã ngậm gương nửa vành” là thế nào? “Đóa trà mi” làm sao có thể “ngậm” được “gương nửa vành” - tức là vành trăng khuyết.
Thúy Kiều đợi Sở Khanh từ chiều hôm, cho đến tối, rồi trăng mọc từ chân trời, nhô dần lên. Trước mặt Thúy Kiều có một khóm trà mi, nhô lên cao là một bông hoa trà mi. Khi trăng từ từ nhô lên, đến một lúc nào đó, mắt Thúy Kiều, đóa trà mi và mặt trăng hạ huyền nằm trên một đường thẳng, lúc này Thúy Kiều nhìn thấy “đóa trà mi đã” nằm lọt trong “gương nửa vành”, tức là đóa trà mi đã che khuất một phần ánh sáng mặt trăng “nửa vành”. Nguyễn Du muốn diễn tả trăng nửa vành mới ló lên ở chân trời, Thúy Kiều nhìn thấy ngang với đóa trà mi.
Nguyễn Du dùng từ “ngậm gương” với ý nghĩa là “che khuất ánh sáng” của mặt trăng. Gương nga là hình ảnh ánh sáng mặt trời phản chiếu từ mặt trăng xuống trái đất, mặt trăng như một cái gương phản chiếu ánh sáng.
Sau đây là những câu thơ Nguyễn Du dùng từ “ngậm gương” với ý nghĩa là che khuất.
1119. Đêm thâu khắc lậu canh tàn
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương
Câu thơ này nằm trong đoạn Sở Khanh đang đưa Thúy Kiều đi trốn. Thúy Kiều và đoàn người ngựa đang đi ở bìa rừng. “Lậu” là đồng hồ nước nhỏ giọt, bên trong chứa nước, có mũi tên khắc độ, xem đó biết thời khắc của ngày.
Ở đây “trăng ngàn” không phải là trăng ở rừng núi, từ ghép. “Trăng ngàn ngậm gương” là trăng đã bị rừng núi “ngậm gương”, tức là trăng đã bị rừng núi che khuất, hay trăng đã lặn xuống dưới núi.
425. Ngày vui ngắn chẳng đầy gang,
Trông ra ác đã ngậm gương non đoài
Ác là mặt trời. Mặt trời đã lặn xuống dưới dãy núi phía tây, hay dãy núi phía tây đã che khuất ánh sáng mặt trời.
1370. Ngoài hiên thỏ đã non đoài ngậm gương
Thỏ là mặt trăng. Mặt trăng đã lặn xuống dãy núi phía tây, hay là dãy núi phía tây đã che khuất ánh sáng mặt trăng.
2. Dàu dàu
Nguyễn Du mô tả mộ Đạm Tiên:
57. Sè sè nấm đất bên đàng,
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Dàu dàu được chú thích: Trạng thái cỏ bị héo úa tàn tạ.
Sè sè và dàu dàu là hai từ láy song đôi. Sè sè là nấm đất (nấm mồ) thấp lè tè, hơi nhô lên khỏi mặt đất. Dàu dàu là cỏ mới mọc, mới nhô lên còn thấp lè tè lá nửa đã xanh nửa còn vàng nõn chuối (còn non), chứ không phải cỏ bị héo úa, tàn tạ, đã héo úa tàn tạ thì làm gì còn “nửa vàng nửa xanh” nữa.
Ở phần trên Nguyễn Du tả quang cảnh lễ tảo mộ và hội đạp thanh:
41. Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Nguyễn Du tả rõ ràng cả một vùng là “cỏ non”.
Sau đó khi Kim Trọng trở lại chỗ gặp Thúy Kiều thì giờ đã:
261. Một vùng cỏ mọc xanh rì,
Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.
Một vùng chỉ có “cỏ non”, rồi “cỏ mọc xanh rì”, làm sao trên nấm mộ lại lẫn vào một đám cỏ bị héo úa, tàn tạ được.
3.Áy
97. Một vùng cỏ áy bóng tà,
Gió hiu hiu thổi một và ngọn lau
Các sách chú thích: Cỏ áy là cỏ úa vàng.
Theo ý chúng tôi, “Cỏ áy” là cỏ bị ánh chiều tà (bóng tà) chiếu vào ánh lên một màu vàng nhợt nhạt. “Một vùng cỏ áy bóng tà” là cả một vùng cỏ bị ánh chiều tà chiếu vào làm ánh lên một màu vàng nhợt nhạt. Và “gió hiu hiu thổi” làm lay động “một và ngọn lau”. Nguyễn Du vẽ nên một quang cảnh buồn hiu hắt, lúc chiều tà.
4. Khi khóe hạnh, khi nét ngài
Câu thơ này đã tốn khá nhiều giấy mực của các nhà khảo cứu và chú giải Truyện Kiều, nhưng đến nay cũng chưa thể thống nhất ý kiến được.
Câu thơ này nằm trong đoạn bí quyết Tú Bà dạy cho Thúy Kiều và các cô gái lầu xanh.
Các nhà bình luận thắc mắc tại sao bí quyết dạy làm tình của Tú Bà lại lọt vào một câu thơ hay như vậy?
Đoạn thơ đó như sau:
1205. Mụ rằng: “Ai cũng như ai,
Người ta ai mất tiền hoài đến đây.
Ở trong còn lắm điều hay,
Nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung.
Này con thuộc lấy làm lòng,
Vành ngoài bảy chữ vành trong tám nghề.
Chơi cho liễu chán hoa chê,
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời.
1213. Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa”.
Câu thơ “Khi khóe hạnh khi nét ngài”, chia hai vế: khi… thế này, khi… thế kia.
Vậy “khi khóe hạnh” là gì?
Theo cách viết của Nguyễn Du, ta có thể hiểu từ “khóe hạnh”, nó là từ ghép của hai từ “mánh khóe” và “đức hạnh”. Vậy “khi khóe hạnh” là “khi mánh khóe đức hạnh”.
Vậy “khi mánh khóe đức hạnh” là gì? Đây không phải là hành động chinh phục khách làng chơi, mà là thủ đoạn chinh phục. “Khi mánh khóe đức hạnh” tức “khi khóe hạnh” là cách đóng kịch, dùng lời nói, dùng hành động của mình, dùng tài ứng biến, thuyết phục khách làng chơi rằng mình là con nhà lành, đức hạnh, thùy mị, lỡ cơ, bị ép buộc bán vào lầu xanh, làm mủi lòng, làm mê hoặc những kẻ giầu có, nhẹ dạ cả tin, giống như ngày nay các cô cave đóng giả là sinh viên, nghệ sĩ, hoa khôi, á hậu…
Còn cụm từ “khi nét ngài” lại là phương thức hành động, cách thức hành động. Đó là cách dùng đường nét cơ thể, cử động cơ thể, những bộ phận cơ thể nhậy cảm… để chinh phục khách làng chơi. “Nét ngài” là hình dáng, đường nét cơ thể, sẽ được trình bày trong câu thơ “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” ở mục 5 bên dưới.
Câu thơ:
“Khi ngâm ngợi nguyệt khi cười cợt hoa”
Là khi đàn hát, ngâm thơ dưới trăng, khi nở nụ cười làm duyên, nụ cười đẹp như hoa. Khi đàn hát, ngâm thơ là thể hiện người có học thức, có kiến thức, có tài năng, thể hiện phẩm chất xuất thân từ con nhà quyền quý, con nhà lành, khi các cô gái tiếp đón khách làng chơi con nhà giầu có quyền quý, có học vấn. “Khi cười cợt hoa” là hành động quyến rũ khách làng chơi bằng nụ cười xinh xắn, đẹp đẽ.
5. Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Câu thơ này Nguyễn Du không tả khuôn mặt và lông mày Thúy Vân, mà ông tả hình thể của cô Thúy Vân.
“Khuôn trăng” là chỉ cặp vú đẹp, tròn trĩnh như nửa vầng trăng. “Khuôn trăng đầy đặn” là chỉ cặp vú vừa “đầy đặn” thôi, vừa đẹp của cô gái mới lớn; tuổi trăng tròn (15 tuổi - cái tuổi được cài trâm). “Khuôn trăng đầy đặn” là Nguyễn Du tả bộ ngực của cô Thúy Vân.
Con ngài có cái eo thon nhỏ, có cái bụng phình to, giống như con ong. “Nét ngài” là chỉ hình dáng, đường nét uốn lượn của eo và hông Thúy Vân giống như đường nét con ngài, từ “nở nang” trong trường hợp này mới hợp với từ “nét ngài” và bổ sung cho từ “nét ngài”. Như vậy, “nét ngài nở nang” là chỉ hình dáng uốn lượn cái eo thon nhỏ, cái mông nở nang của cô Thúy Vân rất đẹp. Theo từ ngữ thời hiện đại ngày nay thì Nguyễn Du tả hình thể cô Thúy Vân: vòng 1: cặp vú “khuôn trăng đầy đặn”, vòng 2: cái eo thon nhỏ như con ngài, con ong, vòng 3: cặp mông nở nang như nét con ngài “nét ngài nở nang”. Nhan sắc của cô Thúy Vân này chắc phải đứng vào hàng ngũ các hoa hậu.
Truyện Kiều hấp dẫn, lôi cuốn là ở sự kì bí của văn chương, những câu chữ có thể ví như những kì hoa dị thảo và cũng chính điều đó kích thích sự nghiên cứu tìm hiểu và tranh luận kéo dài hàng thế kỉ nay.