Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

MÀN ẨN DỤ TÁI HỒI KIM TRỌNG


MÀN ẨN DỤ TÁI HỒI KIM TRỌNG

Đằng sau màn “Tái hồi Kim Trọng” là Nguyễn Du muốn nói lên điều gì, cái gì ẩn sau đó?
Đã có nhiều người bình luận về màn tái hồi Kim Trọng, mỗi người đứng trên một góc độ khác nhau, chê cũng có, mà khen cũng có.
Từ trước đến nay người đọc Truyện Kiều đều cho rằng màn tái hồi Kim Trọng là gượng ép, Phan Cự Đệ chuyên gia nghiên cứu tiểu thuyết Trung Quốc phê phán khá gay gắt cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài nhân coi nó là điểm hình của những tác phẩm kém cỏi. Ông nghiêm khắc chê bai “Dựa vào sự việc của Thúy Kiều mà viết cho sáng rõ ra - vốn có thể mở một thế giới khác ngoài lối tiểu thuyết cũ rich in hệt nhau, tiếc rằng lực hút của tác giả quá yếu, không thể mang lại sức sống cho Thúy Kiều. Còn việc Thúy Kiều nhảy xuống sông tự trầm vốn là kết cục rất tự nhiên, có thể viết rất hay, thế mà tác giả lại cố ý xóa nhòa sự thực, cho nàng được người cứu sống, trả lại đoàn viên. Nhân đấy than thở cho kẻ tục trong đời, thật là muốn chữa chạy cũng chữa không nổi. Người xưa tiết hạnh lạ kỳ đến thế, không may lạc vào sách của kẻ tầm thường nên cảnh tượng mới ra như vậy”.
Xuân Diệu đã đưa ra nhận định: “Nguyễn Du đã sử dụng triệt để cuộc đoàn viên, để tính sổ một lần cuối cùng… Nguyễn Du không đọc bản cáo trạng bằng xương bằng thịt, bằng máu của tâm hồn: Đây là nạn nhân còn sống sót của mười lăm năm chúng bay!”.
Nhà nghiên cứu văn học Đỗ Đức Dục lại cho rằng:"Nguyễn Du kết thúc Truyện Kiều có hậu trước hết là tuân theo một phong cách văn học dân tộc thích hợp với tâm lí con người Việt Nam, tránh cái cực đoan trong kịch tính, ưa cái đôn hậu, thuỷ chung”.
Nguyễn Minh Hùng sau một hồi phân tích đưa ra nhân định “Đoạn kết Truyện Kiều, vì thế, xem như một kết thúc chưa phải kết thúc. Bi kịch không kết như vậy. Truyện cổ dân gian cũng không có hồi kết băn khoăn ấy. Đó là cách kết của một tâm hồn giằng xé, bế tắc và đớn đau”.
Đặng Thanh Lê sau một hồi phân tích, đã đưa đến nhận định:
“Nhưng như vậy, phải chăng đó chỉ là một khúc đoạn trường trọng cung đàn bạc mệnh, một kết thúc đầy bi kịch? Đâu là ước mơ và hy vọng, đâu là ánh sáng và ngày mai? Còn chút gì có thể gọi là "có hậu" trong buổi đoàn viên tàn tạ này?
Tóm lại, với màn "Tái hồi Kim Trọng", Nguyễn Du đã vạch rõ những sự thực chua xót của một con người  tuy đã  "cải mệnh » (Đoạn trường rút tên ra) nhưng hạnh phúc toàn vẹn đã bị trôi đi, đồng thời Nguyễn Du cũng vẫn đem đến cho chúng ta một niềm tin vào phẩm chất đẹp đẽ của con người”. “Không, Nguyễn Du có đau đớn và bi quan nhưng Nguyễn Du vẫn có niềm tin và lý tưởng. Giữa "đêm trường dạ tối tăm trời đất" - ngoài phần hạnh phúc đoàn tụ với gia đình của Kiều - Nguyễn Du đã đem đến cho người đọc niềm rung cảm, niềm hy vọng đối với cuộc sống: đấy là niềm tin vào phẩm chất đẹp đẽ trang sáng của con người”.
Trần Đình Sử đưa ra ý kiến: “Trong cái kết này có ba chi tiết quan trọng cần được làm rõ. Đó là việc cô Kiều bỏ chăn gối với chồng là chàng Kim Trọng, bỏ đàn và chia tay với Giac Duyên”. Rồi ông đưa ra nhận định: “Vì muốn nêu gương tiết liệt, cho nên, lẽ ra chuyện hai người từ chối làm tình trong quan hệ vợ chồng, vốn là môt chuyện rất riêng tư giữa hai người, không cần phải cho ai người ngoài biết làm gì. Nhưng vì muốn nêu gương, nên phải nói cho người ngoài biết mới phát huy được vai trò tấm gương. Thế là Kiều nói với Vân cho Vân biết, Vân lại nói cho bố mẹ, bố mẹ lại nói cho em Vương Quan, và cả nhà đều lấy làm lạ lùng và đều khen Thuý Kiều. Vậy là cuộc tình “cầm cờ” là do Kiều muốn nêu gương tiết liệt mà nên vậy. Sau nhiều năm ê chề nhục nhã, giờ được tái sinh, Kiều không muốn sống một cuộc sống bình thường, thế tục, mà lại muốn sống đời của một đấng liệt phụ để cho đời sau ca ngợi, thật là một điều rất đáng tiếc. Theo tôi cái kết này đã huỷ hoại Truyện Kiều không biết bao nhiêu mà kể”.
Việc bỏ đàn hơi khó hiểu. Tài đàn là một trong những cái tài của nhân vật. Bài đàn của Kiều đã bày tỏ tình thương đối với bao nhiêu nữ nhi bạc mệnh thì sao lại bỏ đi? Trong bản đàn tái hợp Nguyễn Du đã gửi vào đó biết bao khát khao tình yêu, tình dục đằm thắm thì sao lại bỏ? Có phải cây đàn và tiếng đàn gây nên tai họa cho Kiều đâu? Vậy đây vẫn là chi tiết khó hiểu.
Phạm Thị Hồng thì có nhận định: “Xét một cách hệ thống, từ đầu đến cuối, khuôn hình ứng xử của Thuý Kiều chịu sự chi phối của xã hội nam quyền với những cung bậc khác nhau”. “Thuý Kiều tự nguyện gánh chịu tất cả khổ nạn do quan niệm trinh tiết mà nam giới đã áp đặt cho người phụ nữ với một niềm xác tín là người đàn ông như Kim Trọng không thể sống với một người phụ nữ thất tiết”.

Bây giờ ta hãy xem quan điểm của Thúy Kiều:
Thúy Kiều rất muốn về quê hương với ngôi mệnh phụ đường đường, nên đã khuyên Từ Hải ra hàng 2477. Bằng nay chụi tiếng vương thần/ Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì/ Công tư vẹn cả hai bề/ Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương/ Cũng ngôi mệnh phụ đường đường/ Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha”. Nên đã bị Hồ Tôn Hiến lừa, kéo theo cái chết của Từ Hải, Kiều đã nói thẳng trước mặt Hồ Tôn Hiến về người anh hùng Từ Hải “Rằng Từ là đấng anh hùng/ Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi/ Tin tôi nên quá nghe lời/ Đem thân bách chiến làm tôi triều đình/ Ngỡ là phú quý phụ vinh/ Ai ngờ một phút tan tành thịt xương”.
Hồ Tôn Hiến một viên quan to của triều đình cũng say sắc đẹp của Thúy Kiều và tán tỉnh muốn Kiều làm thiếp “Dạy rằng hương lửa ba sinh/ Dây loan xin nối cầm lành cho ai?” Thúy Kiều từ chối thẳng thừng “Thưa rằng chút phận lạc loài/ Trong mình nghĩ đã có người thác oan/ Còn chi nữa cánh hoa tàn/ Tơ lòng đã dứt dây đàn tiểu lân/ Rộng thương còn mảnh hồng quần/ Hơi tàn được thấy gốc phần là may?” Thúy Kiều biết mình không thể là thiếp của một viên quan như Hồ Tôn Hiến được.
Thúy Kiều chửi Hồ Tôn Hiến lấy đi mọi thứ của nàng, chỉ để lại cho Kiều một mảnh vải che thân “rộng thương còn mảnh hồng quần” và nàng muốn xin về quê để thoát thân cũng không được và Hồ đã gả nàng cho viên thổ quan để phi tang. Khi được Giác Duyên cứu, Kiều không còn tư tưởng về quê nữa, mà muốn ở lại tu suốt đời, khi gặp lại bố mẹ và Kim Trọng “Đã đem mình bỏ am mây/ Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa/ Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng/ Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi/ Dở dang nào có hay gì/ Đã tu tu trót qua thì thì thôi!”
Vương Ông đem lễ giáo “tam tòng tứ đức” để ép Kiều phải trở về “Ông rằng bỉ thử nhất thì/ Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền/ Phải điều cầu Phật cầu tiên/ Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?”
Thúy Vân trả chồng lại cho chị để xuống làm hàng thiếp “3065. Gặp cơn bình địa ba đào/ Vậy đem duyên chị buộc vào cho em/ Cũng là phận cải duyên kim/ Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao/ Những là rày ước mai ao/ Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!”, “Quả mai ba bảy đương vừa/ Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì!”
Thúy Kiều gạt ngay đi “3077. Dứt lời nàng vội gạt đi/ Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ/ Một lời tuy có ước xưa/ Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều/ Nói càng hổ thẹn trăm chiều/ Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!”.
Kim Trọng lại đem lễ giáo và lời ước hẹn ra để buộc Kiều phải nghe theo “3085. Một lời đã trót thâm giao/ Dưới dày có đất trên cao có trời/ Dẫu rằng vật đổi sao dời/ Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh/ Duyên kia có phụ chi mình/ Mà toan chia gánh chung tình làm hai”
Thúy Kiều kiên quyết không chịu “3095. Chữ trinh đáng giá nghìn vàng/ Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa/ Thiếp từ ngộ biến đến giờ/ Ong qua bướm lại đã thừ xấu xa/ Bấy chầy gió táp mưa sa/ Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn/ Còn chi là cái hồng nhan/ Đã xong thân thể còn toan nỗi nào/ Nghĩ mình chẳng hổ mình sao/ Dám đem trần cấu dự vào bố kinh/ Đã hay chàng nặng vì tình/ Trông hoa đền chẳng thẹn mình lắm ru/ Từ rày khép cửa phòng thu/ Chẳng tu thì cũng là tu mới là”.
Kim Trọng dùng lý để ép Thúy Kiều phải nghe theo. Kiều không còn cách nào chối cãi được nữa, nên buộc phải nghe theo “3129. Hết lời khôn lẽ chối từ/ Gót đầu nàng những ngắn dài thở than”.
Lúc động phòng hoa chúc Thúy Kiều mới nói hết sự thật lòng mình với Kim Trọng “3145. Nàng rằng phận thiếp đã đành/ Có làm chi nữa cái mình bỏ đi/ Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi/ Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may/ Riêng lòng đã thẹn lắm thay/ Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi/ Những là âu yếm vành ngoài/ Còn toan mở mặt với người cho qua”.
Thúy Kiều nói rất mạnh mẽ, chì chiết Kim Trọng “3153. Lại như những thói người ta/ Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa/ Khéo là dở nhuốc bày trò/ Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi/ Người yêu ta xấu với người/ yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau”.
Kim Trọng phải nói lời thanh minh “3167. Xót người lưu lạc bấy lâu/ Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều/ Thương nhau sinh tử đã liều/ Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình/ Chừng xuân tơ liễu còn xanh/ Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân/ Gương trong chẳng chút bụi trần/ Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm/ Bấy lâu đáy bể mò kim/ Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa/ Ai ngờ lại họp một nhà/ Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”.
Thúy Kiều nghe xong vui mừng, biết đã đạt được điều mình mong muốn và tránh được sự khinh bỉ của Kim Trọng sau này. Nàng nói lời biết ơn Kim Trọng “3179. Nghe lời sửa áo cài trâm/ Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng/ Thân tàn gạn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta/ Mấy lời tâm phúc ruột rà/ Tương tri dường ấy mới là tương tri/ Chở che đùm bọc thiếu gì/ Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay”.
Sự đấu tranh của Thúy Kiều có lẽ chỉ đạt được duy nhất một điều là không cho Kim Trọng ngủ, để Kim Trọng khỏi khinh thường và rẻ rúng mình.
Màn tái hồi Kim Trọng là màn đau đớn nhất của Thúy Kiều, Vừa đau xót, vừa tủi hổ, vừa nhục nhã khi phải nói ra mọi sự thật trước mặt Kim Trọng, nó nhục nhã hơn cả khi bị ép buộc ở lầu xanh.
Có người phê phán câu thơ “Tình nhân lại gặp tình nhân/ Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình? Nhưng câu thơ này có lẽ lột tả đúng tâm trạng của Thúy Kiều và Kim Trọng lúc này, chẳng còn gì với nhau nữa. Có thể Kim Trọng còn chút lòng thương xót Thúy Kiều, vì phải rơi vào cảnh ba chìm bảy nổi. Nhưng quan điểm của một vị quan huyện triều đình khó mà không khinh rẻ, coi thường một cô gái lầu xanh, vì vậy Kiều đã nói câu “Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi”.
Màn tái hồi Kim Trọng không phải là gượng ép, mà là một màn ẩn dụ cực hay của Nguyễn Du. Thúy Kiều bị người đời chà đạp lên mọi quyền lợi được có của người phụ nữ. Khi về đến nhà, lại bị gia đình và người tình xưa, dùng lễ giáo “tam tòng tứ đức” o ép buộc phải tuân theo. Kiều bị hai tầng áp bức. Điều này cũng nói lên một thực tế là những cô gái mại dâm khó mà trở lại với đời thường, khi mà quan niệm xưa đã ăn sâu vào tiềm thức con người, sự khinh bỉ của xã hội là một rào cản khó có thể vượt qua.
Tôi chợt nhớ đến bài thơ của Tố Hữu nói về cô gái điếm trên sông Hương, có lẽ bài thơ chỉ là lời động viên của một nhà thơ khi còn trẻ, thiếu thực tế và có vẻ sáo rỗng: 
– Răng không, cô gái trên sông/ Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài/ Thơm như hương nhụy hoa lài/ Trong như nước suối ban mai giữa rừng/ Ngày mai gió mới ngàn phương/ Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân/ Ngày mai trong nắng trắng ngần/ Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ/ Ngày mai bao lớp đời dơ/ Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay/ Cô ơi tháng rộng ngày dài/Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng”.
Trong chế độ cũ Thúy Kiều là người đáng thương nhất. Nguyễn Du có lẽ là người tri kỷ với Thúy Kiều thì đúng hơn là Kim Trọng là người tri kỷ với Thúy Kiều.
Người đọc tự hỏi không biết Thúy Kiều sẽ sống thế nào đây với Kim Trọng? Nàng hạnh phúc hay đau buồn? Đàn thì đã cuốn dây, tâm hồn thì còn gì nữa để mà làm thơ? Tài năng và sắc đẹp của nàng bây giờ là vô ích, chẳng để làm gì. Nàng sẽ làm gì cho qua ngày đoạn tháng? Nàng chỉ còn mỗi việc là uống rượu, ngắm trăng và chơi cờ “khi chén rượu khi cuộc cờ/ khi xem hoa nở khi chờ trăng lên”. Cái thú vui này là cái thú vui của đàn ông. Nàng Kiều của chúng ta coi như đã chết rồi!
Hà Nội ngày 1.7.2020

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2020

TÂM SỰ NÀNG VÂN



                               LÊ THANH LONG

Nghĩ thương chị lỡ con đò
Mười lăm năm biết bây giờ ở đâu
Chị ơi đời chị khổ đau
Làm sao cho chị thoát mầu oan khiên

“Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên”
“Chị thương kẻ khuất”, chẳng “quên người còn”
“Mấp mô số phận vuông tròn”
Đất không thể nhốt tâm hồn chị yêu

Là em nghĩ vậy, chị Kiều
Đời em thuận, “chị ba chiều bão giông”
“Con đò đời chị về không”
“Chở theo tiếng” sóng trên “sông Tiền Đường”

Biết bao oán giận, yêu thương
Chiếc vành còn thấm mùi hương hẹn hò
Đời em thuận gió không ngờ
Mà thương cho chị bây giờ gian truân

Chàng Kim tìm khắp xa gần
Máu theo nước mắt bao lần ngất xiêu
Cả đời chị chẳng được yêu
Nghĩ cho em chị, Thúy Kiều chị ơi!

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Để cho chị suốt một đời đau thương.

LÊ THANH LONG

Phỏng theo bài thơ “Tâm sự nàng Thúy Vân” của Trương Nam Hương.

Tâm sự nàng Thuý Vân

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Ðời em thể thắt một vòng oan khiên

Sụt sùi ướt cỏ Ðạm Tiên
Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Ðất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!

Là em nói vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Ðường

Chị nhiều hờn giận, yêu thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em biết khi nào được yêu!

TRƯƠNG NAM HƯƠNG

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

TÌNH YÊU CỦA CẶP ĐÔI THÚY VÂN - KIM TRỌNG



                                                              LÊ THANH LONG

Trương Nam Hương có bài thơ “Tâm sự nàng Thúy Vân” viết rất hay. Trong bài thơ có bốn câu đóng chốt quan điểm của Trương Nam Hương: Chị yêu lệ chảy đã đành/ Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim vàGiấu đầy đến nỗi khát khao/ Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?”
Rất nhiều bài viết khen ngợi và bình bài thơ này theo quan điểm của Trương Nam Hương. Tôi đã xem hầu hết các bài viết về vấn đề này, nhưng thấy hơi buồn, vì không thấy có một phản biện nào theo hướng khác.
Tôi viết bài này để minh oan cho Kim Trọng, cho Thúy Vân, cho Thúy Kiều và cho cả Truyện Kiều Nguyễn Du.
Tôi không có ý tranh luận gì với Trương Nam Hương và những người đã viết trước đó về vấn đề này, đó là quyền tự do của mỗi người, mỗi người có một quan điểm riêng, một cách nhìn riêng.
Tôi không đứng trên góc độ tư tưởng của người ngày nay mà xét chuyện ngày xưa, mà đứng trên góc độ, tư tưởng, quan điểm thực tế của người thời xưa, để xem xét chuyện ngày xưa.
Bài viết của chúng tôi là một góc nhìn khác, một cách nhìn khác về vấn đề này.

Sau khi lo xong việc bán mình lấy tiền cứu cha và em, trước khi ra đi, Thúy Kiều còn một việc không thể không làm, đó là trả nghĩa cho chàng Kim.
Sự đời éo le, Thúy Kiều bán mình chuộc cha, đi lấy người khác, để cứu cha và em, nhưng lại mắc vào một lỗi lớn là phản bội lời hứa, mặc dù đã hứa như đinh đóng cột với Kim Trọng “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai”, suốt đời không lấy ai, trước khi Kim Trọng về hộ tang chú. Vì vậy Thúy Kiều vô cùng ân hận, muốn em mình Thúy Vân và cha trả nghĩa cho Kim Trọng. Thúy Kiều vô cùng đau đớn “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”. Thúy Kiều không sung sướng gì khi phải nhờ cậy em “Hở môi ra cũng thẹn thùng/ Để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Để việc nhờ cậy của mình nhất định phải thành công, trước khi nói, Thúy Kiều phải quỳ xuống lạy em mình Thúy Vân “Cậy em, em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Một màn trao duyên cực kỳ cảm động, đau xót với cả Thúy Vân và Thúy Kiều. Chúng ta không thể không chia sẻ nỗi đau xót đến cùng cực của cả hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều lúc này. Ngày xưa cái nghĩa cử phải trả nghĩa nó cao quý, đẹp đẽ hơn cái cá nhân nhỏ bé rất nhiều, Thúy Kiều đã nói với Thúy Vân “Chị dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chin suối vẫn còn thơm lây”. Thúy Kiều không phải không đau xót, không tiếc khi phải nhường người yêu cho em “Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy so tơ phím này/ Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về/ Hồn còn mang nặng lời thề/ Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai/ Dạ đài cách mặt khuất lời/ Rưới xin chén nước cho người thác oan”.
Thúy Kiều nói thẳng với Thúy Vân “Giữa đường đứt gánh tương tư/ Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Thúy Kiều nói thẳng với Thúy Vân “keo loan chắp mối tơ thừa” mối tơ duyên thừa của Thúy Kiều để lại, nhưng Thúy Kiều không ép buộc Thúy Vân, mà nói “mặc em” tự quyết định. Không ai ép buộc Thúy Vân phải lấy Kim Trọng, Thúy Vân hoàn toàn có thể từ chối.
Thúy Vân nhận cái lạy của Thúy Kiều và những đoạn sau đó im lặng, không nói gì, tức là đã tự nguyện chấp nhận lời đề nghị của Thúy Kiều. Hoặc giả Thúy Vân không thể nói gì trong trường hợp này.
Ở đây cũng phải nói thêm. Người thời xưa, việc gả chồng cho con gái là do bố mẹ quyết định, chứ người con gái không được chọn, không được tự chọn. Vương Ông đã nói với Thúy Kiều “Nay cha làm lỗi duyên mày/ Thôi thì nỗi ấy sau này đã em”. Thúy Vân không nói một lời nào trong suốt màn trao duyên, vì Thúy Vân không có quyền tự quyết định việc này. Ngày xưa người ta đi “hỏi vợ”, tức là hỏi xem bố mẹ và người con gái ấy có đồng ý lấy mình không, rồi hai người mới được đi lại, tìm hiểu nhau, Chứ không như bây giờ yêu nhau rồi, trước khi cưới mới đi “hỏi vợ”, không biết lúc này hỏi để làm gì, việc “ăn hỏi” ngày nay chỉ là hình thức.
Sau này Kim Trọng đã cứu cả nhà Thúy Vân thoát khỏi cảnh nghèo túng và nhờ vậy Vương Quan mới được học hành đỗ dạt. Thúy Vân và cả nhà Thúy Vân phải hàm ơn Kim Trọng rất nhiều.
Cả nhà Thúy vân đang trong cảnh nghèo túng “Nhà tranh vách đất tả tơi/ Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa/ Một sân đất cỏ dầm mưa”. Khi gặp Kim Trọng, Kim Trọng đã đón cả nhà Vương Ông về thay Kiều chăm sóc “Vội về sửa chốn vườn hoa/ Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang/ Thần hôn chăm sóc lẽ thường/ Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa”.
Theo ý kiến chúng tôi Thúy Kiều mất mọi thứ, nhưng Thúy Vân thì được mọi thứ. Được chồng đẹp trai, hào hoa phong nhã, con nhà trâm anh thế phiệt có truyền thống văn chương “Nền phú quý, bậc tài danh/ Văn chương nết đất, thông minh tính trời/ Thiên tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”, đi đến đâu sáng bừng lên đến đó “Hài văn lần bước dặm xanh/ Một vùng như thể cây quỳnh cành dao”.
Sắc đẹp thúy Vân xứng tầm với Kim Trọng, người con gái có đức tính trong sạch như tuyết trắng “tuyết tinh thần”, đi đứng, ăn nói trang trọng “Vân xem trang trọng khác vời/ Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang/ Hoa cười ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.
Thúy Vân không yêu, không lấy Kim Trọng thì còn lấy ai đây để hơn được Kim Trọng. Kim Trọng không yêu không lấy Thúy Vân thì còn lấy ai đây để hơn được Thúy Vân (người đứng thứ hai (á hậu) chỉ sau Thúy Kiều (hoa hậu; số 1 về tài sắc).
Không có chứng cứ nào để nói Thúy Vân và Kim Trọng không yêu nhau, cặp đôi như thế không yêu nhau mới là điều lạ. Cặp đôi này không cần ai mối lái, họ cũng sẽ đến với nhau và lấy nhau. Thúy Vân lấy được chồng làm quan, đứng đắn, tài giỏi như thế, Thúy Vân còn mơ ước điều gì hơn thế. Nói Kim Trọng không có tình yêu với Thúy Vân và Thúy vân không yêu Kim Trọng chỉ là suy diễn theo quan điểm, tư tưởng người thời nay.
Ngày xưa các quan lại giầu có thường lấy nhiều vợ. Nguyễn Nghiễm cha Nguyễn Du lấy tới 8 bà vợ. Kim Trọng chỉ lấy một mình Thúy Vân. Điều đó nói lên gì?! Chẳng phải là Kim Trọng rất yêu Thúy Vân đó sao! Tình nghĩa vợ chồng thời xưa sâu nặng, bền vững.
Không có bất cứ lý do gì để hai người Thúy Vân - Kim Trọng không đến với nhau, không yêu nhau, không lấy nhau, cơ trời đã tác hợp cho họ nên duyên vợ chồng.
Các bạn nam trẻ, nếu bạn ở vào địa vị như Kim Trọng, bạn có yêu Thúy Vân không? Các ban nữ trẻ, nếu bạn ở vào địa vị như Thúy Vân, bạn có yêu Kim Trọng không?.
Lấy đoạn Nguyễn Du viết về Kim Trọng nhớ thương Kiều, sau khi biết tin Kiều phải bán mình chuộc cha, để nói rằng Kim Trọng lúc nào cũng tưởng nhớ Kiều là không thuyết phục, không đúng sự thật trong Truyện Kiều.
Kim Trọng đau đơn, xót thương Thúy Kiều đến độ nước mắt chảy ra pha máu hồng “Vật mình vẫy gió tuôn mưa/ Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai/ Đau đòi đoạn/ Ngất đòi thôi/ Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê’“Ruột tằm ngày một héo hon/ Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve/ Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê/ Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”. Vương Ông khuyên giải mấy cũng không được “Quá thương chút nghĩa đèo bòng/ Nghìn vàng thân ấy thì hòng bỏ sao/ Dỗ dành khuyên giải trăm chiều/ Lửa phiền khôn dập càng khêu mối phiền”.
Cha Kim Trọng lo sợ cho tính mạng Kim Trọng “Xuân huyên lo sợ xiết bao/ Quá ra khi đến thế nào mà hay!”. Ông đưa ra một giải pháp tuyệt vời là cưới Thúy Vân cho Kim Trọng “Vội vàng sắm sửa chọn ngày/ Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng/ Người yểu điệu, kẻ văn chương/ Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì”.
Tuy vậy nỗi đau đớn thương xót Thúy Kiều cũng không một lúc mà quên được “Tuy rằng vui chữ vu quy/ Vui này đã cất sầu kia được nào!/ Khi ăn ở lúc ra vào/ Càng âu duyên mới càng dào tình xưa/ Nỗi nàng nhớ đến bao giờ/ Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng/ Có khi vắng vẻ thư phòng/ Đốt lò hương, giở phím đồng ngày xưa/ Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ/ Trầm bay lạt khói gió đưa lay rèm/ Dường như bên chái trước thềm/ Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng/ Bởi lòng tạc đá ghi vàng/Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây”.
Đó thể hiện sự thương nhớ của Kim Trọng thời kỳ đầu, khi biết tin Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha. Điều đó chứng tỏ Kim Trọng là con người chân tình, có tình cảm sâu nặng. Con người như thế không thể nào không yêu Thúy Vân, khi lấy nàng làm vợ. Điều đó cũng chứng tỏ sự miêu tả tâm lý con người tuyệt vời của Nguyễn Du.
Sau đó nỗi thương cảm của Kim trọng cũng nguôi ngoai dần, chàng chăm chỉ học hành và thi đỗ làm quan “Cửa trời rộng mở đường mây/ Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần”.
Nguyễn Du ca ngợi cặp đôi Kim Trọng Thúy Kiều “Một nhà phúc lộc gồm hai/ Thiên niên dằng dặc quan giai lần lần/ Thừa gia chẳng hết nàng Vân/ Một cây cù mộc một sân quế hòe/ Phong lưu phú quý ai bì/ Vầy xuân một cửa để bia muôn đời”.
Kim Trọng và Thúy Vân đã đưa dòng họ Kim ngày càng phát đạt, trường tồn mãi mãi, là tấm gương sáng cho muôn đời sau và trở thành cụ Tổ nhiều đời của dòng họ.
                                                       Hà Nội ngày 28.5.2020
                                                         LÊ THANH LONG

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

Thúy Kiều nghĩ về Thúc Sinh hay Thúc Sinh nghĩ về Thúy Kiều


THÚY KIỀU NGHĨ VỀ THÚC SINH HAY THÚC SINH NGHĨ VỀ THÚY KIỀU?

                                               LÊ THANH LONG
 Câu thơ:
1793. “Mày xanh trăng mới in ngần,
1794. Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa”
Là hai câu thơ đã gây nhiều tranh cãi và lầm lẫn trong giới nghiên cứu và chú giải Truyện Kiều
Trong Truyện Kiều, lúc Kiều bị Khuyển Ưng bắt từ Lâm Tri đưa về Vô Tích nhà Hoạn Bà, rồi Hoạn Bà giao Thúy Kiều cho Hoạn Thư làm con hầu, có đoạn thơ 12 câu từ câu 1783 - 1794:
1783.” Cửa người đày đọa chút thân,
Sớm năn nỉ bóng, khuya ngơ ngẩn lòng.
1785. Lâm Tri chút nghĩa đèo bòng,
Nước non để chữ tương phùng kiếp sau!
Bốn phương mây trắng một màu,
Trông vời cố quốc biết đâu là nhà?
Lần lần tháng lụn ngày qua,
1790. Nỗi gần, nào biết đường xa thế này.
Lâm Tri từ thuở uyên bay,
Phòng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân.
Mày xanh trăng mới in ngần,
1794. Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa!”
Hai câu thơ:
1793. “Mày xanh trăng mới in ngần
1794. Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa”
có nhiều ý kiến chú thích, bình giải khác nhau.
Bản Quan Văn Đường chép là “Mày xanh”, nhiều bản chép là “Mày ai” để nói bóng về Kiều. Tản Đà chê hai chữ “Mày xanh” là vô vị.
+ Bản của Đào Duy Anh, năm 1979 giải thích: “Uyên bay”: Chỉ tình hình Thúc Sinh mất Thúy Kiều. “Mày ai” (mày xanh): Ý Thúc Sinh nhìn trăng lưỡi liềm mà nghĩ đến lông mày của thúy Kiều. “In ngần”: In dấu (ngần tức là ngấn nói theo giọng bằng. Không giải thích câu 1794.
+ Bản của Vũ Ngọc Khánh, 2010 giải thích:
Uyên bay: Ý nói Thúy Kiều không còn nữa (con chim uyên đã bay mất).
“Trăng mới”: Trăng đầu tháng. Câu này đại ý nói: Thúc Sinh trông thấy mặt trăng lưỡi liềm đầu tháng giống như lông mày người con gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều. Câu 1794 đại ý nói: Thúy Kiều không còn nữa. Thúc Sinh trông thấy phấn hương của nàng còn sót lại mà thương tâm.
+ Bản của Mai Quốc Liên, 2018 giải thích câu 1793 ý nói: Trăng non đầu tháng còn mờ như một nét lông mày khiến Thúc Sinh nhớ đến Thúy Kiều.
 “Uyên”: Đây là Kiều. “Từ thuở uyên bay”: Từ thuở Kiều không còn nữa (như Thúc Sinh lầm tưởng).
+ Bản của Hội Kiều học, 2015 giải thích:
“Mày xanh… in ngần”: Thúc Sinh ngắm mặt trăng đầu tháng mà nhớ đến hình ảnh đôi lông mày của Kiều vẫn in trong tâm trí.
“Phấn thừa hương cũ”: Xem đến chỗ phấn hương cũ còn sót lại, Thúc Sinh càng xót xa cho thân Kiều.
“Uyên bay”: Chim uyên ương sống thành đôi, chỉ cảnh vợ chồng. “Uyên bay”: Chỉ một con bay đi, ý nói Thúc Sinh mất Kiều.
Theo tôi các nhà chú giải đã có những nhầm lẫn:
+ Cái nhầm lẫn thứ nhất dẫn đến việc các sách chú thích sai là nhầm Uyên là chim mái, nên ví như Kiều, thực ra Uyên là con chim trống, phải ví với Thúc Sinh mới đúng.
+ Nhầm lẫn thứ hai là nhà Thúy Kiều đã bị Khuyển Ưng đốt cháy hết còn đâu phấn hương của Kiều còn sót lại để Thúc Sinh trông thấy, mà nói “Thúc Sinh trông thấy phấn hương của nàng còn sót lại mà thương tâm”.
+ Thứ ba chữ “Mày xanh” mọi người cứ nghĩ là nói về Thúy Kiều, nên Tản Đà nói là “vô vị” và Kiều Mộng Oánh sửa lại là “Mày ai”.
Theo cuốn “Từ điển tiếng Việt” của Trung tâm Từ điển học, NXB Đà Nẵng giải thích “uyên ương” (danh từ) là chim cùng họ với vịt, sống ở nước, con đực [uyên] và con cái [ương] sống không bao giờ rời nhau, thường dùng trong văn chương để ví cặp vợ chồng đẹp đôi, gắn bó, “đôi uyên ương”.



Ảnh: ĐÔI UYÊN ƯƠNG

Hai câu thơ này trong 12 câu thơ nêu trên, theo tôi là Thúy Kiều tự tâm sự với chính mình (Thúy Kiều không biết mình đang ở nhà Hoạn Thư là vợ cả của Thúc Sinh):
“Chút thân” (của Thúy Kiều) hèn mọn, nhỏ bé bị “đầy đọa”“cửa” nhà “người” ta, “cửa người đầy đọa chút thân”, “sớm” thì như một cái “bóng”, “năn nỉ” cầu xin sự thương hại, đêm “khuya” thì nỗi “lòng” “ngơ ngẩn” nghĩ đến người tình Thúc Sinh, “sớm năn nỉ bóng, khuya ngơ ngẩn lòng”.
 Kiều tâm sự: Ở “Lâm Tri” có một “chút” tình “nghĩa” vợ chồng dan díu, tự mang lấy những vương vấn, “đèo bòng”, lời thề nguyền “nước non” son sắt gắn bó, xin “để chữ tương phùng”, gặp lại nhau, đến “kiếp sau” thôi!
Nhìn ra “bốn phương” chỉ thấy “một màu” “mây trắng”, “trông” xa “vời” “cố quốc”, quê hương không “biết” nơi “đâu”, “là nhà” bố mẹ mình nữa.
Cứ “lần lần” tháng hết, “tháng lụn”, “ngày” trôi “qua” đi, “nỗi” niềm nói với nhau khi chàng Thúc về quê nghĩ tưởng “gần”, “nào” đâu “biết” “đường” đi đó lại “xa” xôi đến “thế này!”
“Lâm Tri” “từ” cái “thuở” chim “uyên bay” đi, tức Thúc Sinh, về nhà vợ cả, nghĩ “thương” cho “kẻ” đi đường xa, “phòng không”, “tháng ngày” cô đơn chỉ có một thân một mình, “chiếc thân”, “phòng không thương kẻ tháng ngày chiếc thân”.
Uyên ương là loài chim rất đẹp trông giống như vịt nhưng có màu sắc sặc sỡ, uyên là chim trống, ương là chim mái, thường sống có đôi.
Người trai trẻ Thúc Sinh, “mày xanh”, với mối tình với Kiều đẹp như “trăng mới in ngần”, còn nàng Kiều lại nghĩ Thúc Sinh chỉ được hưởng chút, “phấn thừa hương cũ” của mình, nên “bội phần xót xa” cho chàng. 
Có tác giả chú giải: “Trăng mới” là trăng đầu tháng, Thúc sinh trông thấy trăng lưỡi liềm giống như lông mày người con gái đẹp mà tưởng nhớ đến Kiều. Thúy Kiều không còn nữa, Thúc sinh trông thấy phấn hương của nàng còn sót lại mà thương tâm.
Những lý giải ở trên không hợp lý, Thúc Sinh từ Vô Tích về Lâm Tri thì thấy: Bước vào chốn cũ lầu thơ/ Tro than một đống, nắng mưa bốn tường”. Biết chắc Thúy Kiều đã chết rồi, Thúc Sinh có thể nhớ và thương tiếc Thúy Kiều, nhưng làm sao có thể nói “Mày xanh trăng mới in ngần/ Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa”. Nhà Thúc Sinh và Thúy Kiều ở đã cháy trụi rồi, thì còn đâu “phấn thừa hương cũ” sót lại nữa mà nhìn thấy.
Các nhà chú thích và chú giải từ trước đến nay vẫn nghĩ hai câu thơ 1793, 1794 là Thúc Sinh nghĩ đến Thúy Kiều, nên mọi chú thích và chú giải đều theo hướng này.
Hai câu thơ này nằm trong đoạn nói về tâm tư của Thúy Kiều trong thời gian Thúy Kiều hầu hạ Hoạn Thư từ câu 1783 - 1794. Đoạn thơ này có 12 câu nói về tâm tư Thúy Kiều nghĩ về thân phận mình, nghĩ đến mối tình với Thúc Sinh ở Lâm Tri và thương Thúc Sinh phòng không một thân một mình khi rời Lâm Tri trên đường về Vô Tích và bây giờ có lẽ đã từ Vô Tích trở lại Lâm Tri. Cặp uyên ương là chỉ cặp tình nhân đẹp như đôi chim uyên ương, từ khi chim uyên (chỉ Thúc Sinh) bay về Vô Tích. Trong 12 câu thơ trên là tâm tư của Thúy Kiều xuyên suốt, không có lý do gì lại lọt vào hai câu 1793, 1794 Thúc Sinh nghĩ về Thúy Kiều.
Hai câu thơ 1793. Mày xanh trăng mới in ngần/ 1794. Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa! Theo ý chúng tôi vẫn là hai câu thơ liền mạch Thúy Kiều nghĩ về Thúc Sinh.
Chữ “Mày xanh” không thể chữa thành “Mày ai” được, vì chữ “Mày xanh” là Thúy Kiều muốn nói về chàng Thúc Sinh tuổi trẻ, đang phải “phòng không” một thân một mình, nên Thúy Kiều mới “thương kẻ tháng ngày chiếc thân”.
“Trăng mới in ngần” là Thúy Kiều muốn nói về mối tình của Thúc Sinh mới chớm nở đẹp đẽ, in dấu ấn vào cuộc đời Thúc Sinh như “trăng mới in ngần”, trăng mới là mối tình mới, mà bị chia lìa, làm cho chàng Thúc Sinh bây giờ phải một thân một mình cô đơn “buồng không”.
Câu thơ trên “Mày xanh trăng mới in ngần” đối nghịch với câu thơ dưới “Phấn thừa hương cũ bội phần xót xa”. Trong suy nghĩ của Thúy Kiều, nàng nghĩ Thúc Sinh coi mối tình giữa hai người là “trăng mới in ngần”, nhưng với Thúy Kiều thì Thúc Sinh chỉ được hưởng “phấn thừa hương cũ” của mình, nên Thúy Kiều mới “bội phần xót xa”, thương cho Thúc Sinh. Đó là những suy nghĩ thật lòng của Thúy Kiều về mối tình của mình với Thúc Sinh.
Thúy Kiều là người hay nói thẳng ra sự thật, như khi gặp lại Kim Trọng, Kiều đã nói về nỗi xấu hổ của mình:
3149. Riêng lòng đã thẹn lắm thay,
Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi.
Và Kiều nói gay gắt với Kim Trọng:
3153. Lại như những thói người ta,
Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa.
Khéo là giở nhuốc bày trò,
Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi!
Hoặc:
3163. Còn nhiều ân ái chan chan,
Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi?
Theo cách viết của Nguyễn Du, cứ kết thúc một đoạn, chuyển sang đoạn khác là Nguyễn Du lại tả cảnh mở đầu cho đoạn tiếp theo đó.
Tiếp theo câu 1794 là câu 1795 chuyển từ tâm sự của Kiều sang nói về Thúc Sinh:
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Tìm đâu cho thấy cố nhân?
Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương.
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
Đây là ý kiến cá nhân, đưa ra để mọi người cùng tham khảo.
                                     Hà Nội ngày 15.5.2020
                                           Lê Thanh Long