Thứ Hai, 3 tháng 2, 2020

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỆN KIỀU VÀ HOA TIÊN TRUYỆN


SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỆN KIỀU
VÀ HOA TIÊN TRUYỆN

                                            LÊ THANH LONG

Truyện Kiều là tác phẩm văn học nổi tiếng nhất Việt Nam và là một trong những tác phẩm văn học được dịch ra nhiều thứ tiếng. Truyện Kiều là tác phẩm văn học được nhiều người đọc nhất, được nhiều người nghiên cứu nhất, có nhiều bài viết về nó nhất, là tác phẩm có nhiều tranh luận nhất từ xưa cho đến nay và cũng là tác phẩm còn nhiều điều mơ hồ nhất.
Một tác phẩm văn học vĩ đại như vậy, cách nay chưa lâu lắm, chỉ mới trên hai trăm năm, nhưng nó được viết vào lúc nào, được truyền bá ra bên ngoài từ lúc nào, thì đến nay vẫn còn chưa biết.
Còn nhiều điều lạ lùng vẫn còn bỏ ngỏ.
Có một câu hỏi đơn giản, cần được làm rõ là “Tại sao Nguyễn Du lại chọn thể thơ Lục bát để viết Truyện Kiều?”
1.Dòng chảy thời gian của những truyện thơ
Nguyễn Du không phải là một nhà văn mà là một nhà nho, một nhà thơ. Ông thông hiểu tiếng Hán. Ông chủ yếu sáng tác thơ Đường bằng tiếng Hán. Thời Nguyễn Du văn tự viết bằng Hán ngữ. Thời Nguyễn Du thơ Cổ phong đã qua, thơ Đường không còn là đỉnh cao. Thơ Đường phát triển rực rỡ vào thời Đường (618 - 907).
Trước Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, nhà thơ trẻ viết tác phẩm nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm bằng Hán văn theo thể thơ Cổ phong, các câu thơ dài ngắn khác nhau. Sau đó Đoàn Thị Điểm dịch Chinh Phụ Ngâm sang tiếng Việt theo thể thơ Song thất lục bát, bản dịch rất nổi tiếng. Chinh Phụ Ngâm còn được Phan Huy Ích, Nguyễn Khản dịch sang tiếng Việt theo thể Song thất lục bát. Thời đó Song thất lục bát rất thịnh hành. Song thất lục bát là sự lai ghép giữa thơ Đường của Trung Quốc và thơ Lục bát của Việt Nam, hai câu thơ 7 chữ liền sau là hai câu lục bát.
Thơ lục bát xuất xứ từ ca dao, ra đời sớm nhất cũng từ thế kỷ 14, đến thế kỷ 16 luật lục bát hoàn thành sứ mệnh của mình khi chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ 6 của câu bát. Thời đó những tác phẩm văn học bằng thể thơ lục bát còn rất khiêm tốn. Nguyễn Du đã viết “Văn tế thập loại chúng sinh” bằng thơ Lục bát.
Nguyễn Du nhận ra thể thơ Lục bát có thể truyền tải được mọi vẫn đề của cuộc sống và văn chương, không bị hạn chế, không bị giới hạn về số câu, có thể kéo dài số câu vô hạn theo ý mình, không thua kém gì văn xuôi. Thơ Lục bát xuất xứ từ ca dao, đã đi vào lòng người Việt Nam, là thể thơ của Việt Nam. Và có lẽ Nguyễn Du, hơn ai hết, biết bình có năng khiếu về loại hình thơ này và Lục bát có thể cải tiến cho hay hơn được, hơn nữa chắc hẳn ông rất mê loại thơ này. Ông muốn phát triển một loại hình thơ đặc sắc của Việt Nam và chỉ của Việt Nam. Ông muốn khai phá mảnh đất hoang màu mỡ này.
Trước Nguyễn Du, Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán, một kiệt tác văn học của Việt Nam. Chinh phụ ngâm được viết theo thể thơ Cổ phong, câu thơ dài ngắn khác nhau. Năm sinh, năm mất của Đặng Trần Côn đến nay cũng không biết chính xác, các nhà nghiên cứu ước đoán năm sinh của ông vào khoảng 1710 - 1720, mất khoảng nam 1745, sống vào thời Lê trung hưng. Đặng Trần Côn quê ở làng Nhân Mục (làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quân Thanh Xuân.
Chinh phụ ngâm ra đời đã gây một tiếng vang lớn trong giới nho sĩ đương thời, nhiều người tìm cách dịch nó ra chữ Nôm. Chữ Nôm là loại chữ viết để phiên âm tiếng Việt (lúc đó Việt Nam chưa có chữ viết). Có nhiều bản dịch và phỏng dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khản, Bạch Liên Am Nguyễn, Phan Huy Ích. Bản Chinh phụ ngâm hiện nay do Đoàn Thị Điểm dịch, ban đầu có tên là Chinh phụ ngâm khúc diễn ca, là một kiệt tác dịch Nôm.
Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, bà là người được đánh giá bậc nhất về sắc đẹp và tài văn chương. Năm 37 tuổi bà mới kết hôn với tiến sĩ Nguyễn Kiều góa vợ, vừa cưới xong Nguyễn Kiều đã phải đi sứ sang Trung Quốc. Bà dịch Chinh Phụ Ngâm trong thời gian chồng là Nguyễn Kiều đi sứ Trung Quốc ba năm.
Truyện Hoa tiên, còn có tên là Hoa tiên ký hay Đệ bát tài tử Hoa tiên diễn âm; là một truyện dài bằng thơ Nôm của Nguyễn Huy Tự (1743 -1790) ra đời khoảng giữa thế kỷ 18 trong lịch sử văn học Việt Nam.
Truyện Hoa tiên được viết phỏng theo một ca bản của Trung Quốc có nhan đề là Đệ bát tài tử Hoa tiên ký. Ca bản này viết bằng thể thơ thất ngôn cổ phong liền vận, thỉnh thoảng có phụ thêm mấy chữ ở đầu câu để chuyển ý. Vì vậy, có nhiều bản chép tay truyện Hoa Tiên vẫn đề là Đệ bát tài tử Hoa tiên diễn âm.
Theo GS. Nguyễn Lộc, thì bản (nguyên tác) của Nguyễn Huy Tự có độ dài là 1.532 câu lục bát. Sau khi được một người em họ bên vợ là Nguyễn Thiện (1763-1818); con Nguyễn Điều, gọi Nguyễn Du bằng chú) sửa chữa và thêm thắt (nhuận sắc) thì bản truyện có cả thảy là 1.826 câu, và được Đỗ Hạ Xuyên khắc ván in đầu tiên vào năm Ất Hợi (1875) đời Tự Đức, với nhan đề là Hoa tiên nhuận chính, hay Hoa tiên nhuận chính tân biên.
Như vậy “Hoa tiên nhuận chính tân biên” khắc in năm 1875, còn sau cả Truyện Kiều được khắc in năm 1866.
Truyện Hoa tiên nói về cuộc tình duyên trắc trở giữa hai nhân vật chính: Lương Sinh và Dương Dao Tiên, vì hai bên viết lời thề nguyền gắn bó với nhau trên hai tờ giấy hoa tiên nên truyện mới có tên là Hoa tiên.
Theo GS. Nguyễn Lộc, Hoa tiên là một câu chuyện tình xảy ra trong cảnh lầu son gác tía. Điều đáng chú ý là trong tác phẩm này là không có một nhân vật phản diện nào cả. Mâu thuẫn giữa tình yêu và lễ giáo phong kiến ở đây không thể hiện thành hai tuyến nhân vật đối lập, như trong nhiều truyện Nôm khác cùng thời, mà là cuộc đấu tranh giữa lý trí và tình cảm ở những nhân vật chính. Tác giả một mặt tỏ ra khá say sưa với tự do yêu đương khi miêu tả mối tình của Lương sinh và Dao Tiên, nhưng mặt khác lại không muốn lễ giáo phong kiến bị vi phạm. Cho nên trong Hoa tiên, ta thấy rõ khuynh hướng điều hòa mâu thuẫn giữ tình yêu và lễ giáo. Cái hay và cái hạn chế của Hoa tiên là ở chỗ ấy.
Về phương diện nghệ thuật, mặc dù dựa khá sát vào nguyên bản (của Trung Quốc), tác phẩm của Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Thiện nhuận sắc vẫn mang được một sắc thái trữ tình đậm nét. Nội tâm của Dao Tiên được khai thác tinh tế và sinh động. Thành công của truyện Hoa tiên góp phần thúc đẩy dự ra đời của thể loại truyện Nôm trong giai đoạn này.
Theo Nguyễn Thiện, thì truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự (con rể Nguyễn Khản) hãy còn có chỗ đơn sơ và thiếu sót, nên ông đã tiến hành việc nhuận sắc.
Về mặt nội dung tư tưởng, Nguyễn Thiện đã tô rõ thêm những quan niệm trung, hiếu, tiết, nghĩa của tác phẩm. Ông coi trọng việc diễn tả con người bằng hai cách: gián tiếp qua động tác, trực tiếp qua nội tâm. Do đó, ông đã góp cho Hoa tiên những nét sáng tạo đáng kể. Một điều đáng chú ý khác là Nguyễn Thiện thường đi sâu hơn vào việc diễn tả cảnh sắc thiên nhiên, nên đã phô diễn được rất khéo tâm trạng của nhân vật. Tuy nhiên, nhìn bao quát mà xét, ta thấy phần đóng góp của Nguyễn Thiện trong việc nhuận sắc thường nặng về mặt hình thức, nghệ thuật. Tán thành điều này, GS. Nguyễn Lộc cũng đã viết rằng: Bản Hoa tiên (nguyên tác) của Nguyễn Huy Tự câu văn không chải chuốt bằng bản (nhuận sắc) của Nguyễn Thiện, nhưng giữ được những cảm xúc chân thật. Bản của Nguyễn Thiện khuôn sáo, gò gẫm, nên có chỗ văn làm hại ý.
Nguyễn Huy Tự (1743-1790): còn có tên là Yên, tự Hữu Chi, hiệu Uẩn Trai; là danh sĩ và là quan nhà Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam.
Nguyễn Huy Tự sinh tháng 8 năm 1743, trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng ở làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Ông là con trai trưởng của danh sĩ Thám Hoa Nguyễn Huy Oánh, và là con rể của Tiến sĩ Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du) ở xã Tiên Điền, huyện Nghi XuânHà Tĩnh.
Năm 17 tuổi, Nguyễn Huy Tự đỗ thứ 5 kỳ thi Hương tại trường Nghệ An
Năm 1770, ông thi Hội trúng Tam trường, được bổ làm Hiến sát phó sứ xứ Sơn Nam.
Năm 1781, ông được phái làm Khâm sai Giám đằng kiêm ấn quyển ở khoa thi Hội. Năm 1782, đổi ông làm Thanh hình hiến sát sứ Sơn Tây, rồi Đốc đồng Sơn Tây, Hàn lâm viện hiệu lý, tước Uẩn Đình hầu. Cũng trong năm này, ở kinh đô Thăng Long có loạn kiêu binh. Vương triều và đất nước cùng lâm vào cảnh rối ren, loạn lạc. Nhân có tang mẹ, Nguyễn Huy Tự xin về chịu tang (1784) và ở hẳn ở nhà không ra làm quan nữa. Về lại Trường Lưu, ông giúp cha (Nguyễn Huy Oánh) chăm lo cho Phúc Giang thư viện.
Năm 1790, ông được vua Quang Trung triệu tới Phú Xuân. Ông nhận lời làm Hữu thị lang cho nhà Tây Sơn. Nhưng liền sau đó, ông mắc trọng bệnh và mất ngày 27 tháng 7 năm 1790 tại Phú Xuân, lúc 47 tuổi, thụy là Thông Mẫn.
Tác phẩm của Nguyễn Huy Tự có truyện thơ Hoa tiên (còn có tên là Hoa tiên ký) bằng chữ Nôm, được viết vào khoảng giữa thế kỷ 18.
Có lẽ Nguyễn Du có được đọc Hoa tiên. Hoa tiên được khắc in năm 1875, sau khi Nguyễn Du mất được 55 năm.
Nguyễn Thiện (1763 - 1818) mất trước Nguyễn Du. Như vậy Nguyễn Thiện đã nhuận sắc xong Hoa tiên trong thời Nguyễn Du còn sống, tức là Nguyễn Thiện đã được đọc Đoạn trường tân thanh trước khi Nguyễn Du mất.
Nguyễn Huy Tự là con rể của Nguyễn Khản, anh Nguyễn Du. Như vậy Nguyễn Du rất gần gũi với Nguyễn Huy Tự. Nguyễn Du chắc đã được đọc Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự. Hoa tiên được Nguyễn Huy Tự viết bằng thể thơ lục bát, phỏng theo một ca bản của Trung Quốc có nhan đề là Đệ bát tài tử Hoa tiên ký. Ca bản này viết bằng thể thơ thất ngôn cổ phong liền vận. Nguyễn Du khi đọc Hoa tiên có lẽ cũng rút ra cho mình những gợi ý, những kinh nghiệm nhất định, để sáng tác Đoạn trường tân thanh. Nguyễn Du cũng chọn thể thơ lục bát để viết Truyện Kiều, nhưng khác Nguyễn Huy Tự là ông chọn một tác phẩm văn xuôi của Thanh Tâm Tài Nhân hoàn chỉnh, đa dạng về sự kiện và về nhân vật.
2.Sự tương đồng và mối quan hệ giữa Truyện KiềuHoa tiên truyện
Sự thành công của Hoa tiên có lẽ cũng giúp Nguyễn Du thêm tự tin, thêm ý chí và động lực để sáng tác Đoạn trường tân thanh. Đọc Hoa tiên giúp ích rất nhiều cho Nguyễn Du trong việc sáng tác Truyện Kiều. Truyện Hoa tiên về cơ bản gần giống với Truyện Kiều. Rất nhiều câu chữ trong hai truyện tương tự nhau.
Hoa tiên cũng như Truyện Kiều được viết ra khi nào và lưu hành khi nào thì vẫn chưa rõ. Theo PGS. TS. Lại Văn Hùng tác phẩm Hoa tiên được Nguyễn Huy Tự viết vào thời còn trẻ. Có tài liệu nói Nguyễn Huy Tự viết Hoa tiên từ năm 1759 - 1768, lúc khoảng 17 - 26 tuổi.
Việc Hoa tiên có một số câu thơ giống Truyện Kiều, có thể là Nguyễn Du đã đọc Hoa tiên và chịu ảnh hưởng của Hoa tiên, cũng có thể là Nguyễn Thiện đã được đọc Đoạn trường tân thanh, và đã thêm thắt, sửa chữa; nhuận sắc Hoa tiên thêm vào sau này.
Dương Quảng Hàm viết: “Khi ta đọc Hoa tiên, thấy có nhiều câu hoặc giống hẳn, hoặc hơi giống những câu trong Truyện Kiều, thì biết rằng tác giả Truyện Kiều đã được đọc Hoa tiên và đã chịu ảnh hưởng của truyện ấy”.
Truyện Hoa Tiên còn được Cao Bá Quát (1808 - 1855) sửa chữa thêm ít nhiều và đề tựa vào năm 1843. Cao Bá Quát cho rằng: “Đến như cái giỏi về truyện thì ta còn thấy được Hoa Tiên và Truyện Kiều... Kim Vân Kiều là lời nói hiểu đời; Hoa Tiên là lời nói răn đời vậy”.
Cách so sánh: “Kiều là tiếng nói hiểu đời, Hoa tiên là tiếng nói răn đời” là một so sánh tầm cỡ, chạm đến những giá trị tột bực của Truyện Kiều mà Hoa tiên có phần như một đối trọng, hay nói cách khác, như một ảnh hưởng trọng đại. Cao Bá Quát hàm ý Hoa tiên là “một cái gì đó” đủ khiến cho “sau đó Kim Vân Kiều sinh ra được”.
Nội dung trong Hoa tiên truyệnTruyện Kiều là những cuộc tình na ná như nhau, nên những chữ nghĩa, từ ngữ hai tác giả sử dụng cũng tương tự như nhau, kể cả các điển tích.
Nguyễn Tài Cẩn cho rằng Nguyễn Du đã tiếp thu từ Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự khi viết Đoạn trường tân thanh. Ngược lại khi nhuận sắc Hoa tiên Nguyễn Thiện đã bắt chước Truyện Kiều.
Hoa tiên truyện đạt được những thành công đáng kể thời đó, là động lực giúp Nguyễn Du tự tin, đi sâu nâng cấp thơ lục bát lên một tầm cao mới, khi sáng tác Truyện Kiều.
Hoa tiên truyện khó hiểu, khó đọc, ngay cả với những nhà nghiên cứu, nên khó đi vào quảng đại quần chúng nhân dân như Truyện Kiều.
Theo Đào Duy Anh, ông đã được tiếp cận bản Hoa tiên do ông Nguyễn Huy Cừ sao chép. Ông Nguyễn Huy Cừ nói rằng, ông sao chép lại ở một bản gốc hiện nay đã hư nát và mất tích. Bản này có độ dài 1532 câu thơ lục bát. Ông Đào Duy Anh ngờ rằng bản này là nguyên tác của Nguyễn Huy Tự, chưa trải qua Nguyễn Thiện nhuận sắc.
Bản Hoa tiên truyện dài 1826 câu thơ lục bát được dùng trong nhà trường. Nên chúng tôi sử dụng bản này để so sánh, đối chiếu với Truyện Kiều.  
Truyện KiềuHoa tiên truyện có nhiều sự tương đồng. Đọc phần mở đầu và kết luận, về nội dung thì khác nhau, nhưng cách thức thực hiện thì tương tự nhau.
Mở đầu trong Hoa tiên:
Trăm năm một sợi chỉ hồng,
Buộc người tài sắc vào trong khung trời.
Sự đời thử ngẫm mà chơi,
Tình duyên hai chữ với người hay sao?
5. Từng nghe trăng gió duyên nào,
Bể sâu là nghĩa, non cao là tình.
Người dung hạnh, bậc tài danh,
Nghìn thu để một mối tình làm gương.
Mở đầu trong Truyện Kiều:
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
5. Lạ ghì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Kết thúc trong Hoa tiên:
Gót đầu bàn lại mà chơi,
Phong hoa hai chữ cõi đời ai không.
Lấy tình gặp gỡ đã xong,
1820. Trước sau vẹn một chữ tòng mới ghê.
Lời quê dù đã nhầm nghe,
Gác bên tình tứ giữ bề hiếu trinh.
Luân thường sáng để rành rành,
Chớ đem bác hẳn mà khinh làm thường.
1825. Nôm na đỡ chút canh trường,
Kể rồi dặn lại hai đường thế hay.
Kết thúc trong Truyện Kiều:
Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.
3245. Có đâu thiên vị người nào,
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai.
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Đã mang lấy nghiệp vào thân,
3250. Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh.
Lời thơ, ý tứ trong Hoa tiên và trong Truyện Kiều đều tỏ ra nhã nhặn, nhưng đều toát lên vẻ tự tin. Đặt vấn đề mở đầu và kết thúc trong hai truyện đều chặt chẽ, như Cao Bá Quát đã nhận xét và đánh giá Truyện Kiều“hiểu đời” còn Hoa tiên“dạy đời”.
Đọc và so sánh hai bản truyện Truyện Kiều của Nguyễn Du và Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự đã được Nguyễn Thiện nhuận sắc, ta khó xác định được câu nào là Nguyễn Du tham khảo từ Hoa tiên và câu nào Nguyễn Thiện bắt chước Truyện Kiều để nhuận sắc Hoa tiên. Những câu thơ trong hai bản truyện tương đồng nhau rất nhiều, chúng tôi xin dẫn ra một số (theo Hoa tiên, NXB Lửa Thiêng, Quang Minh dẫn giải, năm 1958, 1826 câu, và theo Truyện Kiều, NXB trẻ, Ban Văn bản Truyện Kiều - Hội Kiều học Việt Nam hiệu khảo, chú giải, năm 2015).
1. Hoa tiên, câu 97: Thiên nhiên sẵn đúc dày dày,
Truyện Kiều, câu 1312: Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.
2.Hoa tiên, câu 166: Làm chi đem giống khuynh thành trêu ai.
Truyện Kiều, câu 258: Làm chi đem thói khuynh thành trêu ngươi
3.Hoa tiên, câu 109: Người về khuất, kẻ trông theo,
Tuyện Kiều, câu 168: Khách đà lên ngựa, người còn nghé theo.
4.Hoa tiên, câu 141: Sinh rằng: “Động khóa nguồn phong”,
Hoa tiên, câu 215: Tấc gang gác khóa lầu then
Truyện Kiều, câu 285: Tấc gang động khóa nguồn phong.
5.Hoa tiên, câu 177: Được lời sinh vội uốn lời:
Truyện Kiều, câu 1985: Dối quanh sinh mới liệu lời,
6.Hoa tiên, câu 178: “Dạo trăng ban tối, lạc vời bước sang”.
Truyện Kiều, câu 1986: Tìm hoa quá bước xem người viết kinh.
7.Hoa tiên, câu 205: Cánh hồng hãy gắng bay cao,
Truyện Kiều, câu 2247: Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
8.Hoa tiên, câu 254: Tường đông bướm lại ong qua mặc lòng.
Truyện Kiều, câu 38: Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
9.Hoa tiên, câu 258: Bụi hồng dứt nẻo chiêm bao đi về.
Truyện Kiều, câu 250: Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao.
10.Hoa tiên, câu 411: Đã gần chi có điều xa,
Truyện Kiều, câu 1365: Đã gần chi có điều xa,
11.Hoa tiên, câu 444: Dừng chân gạn một lời này chút nao.
Truyện Kiều, câu 316: Dừng chân gạn chút niềm tây gọi là.
12.Hoa tiên, câu 447 - 448: Bấy lâu đắp nhớ, đổi mong,
Truyện Kiều, câu 383: Những là đắp nhớ đổi sầu,
13.Hoa tiên, câu: 450: Đài gương may họa rõ soi dấu bèo.
Truyện Kiều, câu 330: Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng?
14.Hoa tiên, câu 477: Nghe lời Hương cũng êm tai,
Truyện Kiều, câu 683: Phải lời ông cũng êm tai,
15.Hoa tiên, câu 507: Ấp cây một mực trần trần,
Truyện Kiều, câu 328: Trần trần một phận ấp cây đã liều!
16.Hoa tiên, câu 540: Thử xem con tạo chiều người hay không?
Truyện Kiều, câu 1116: Mà xem con tạo xoay vần đến đâu!
17.Hoa tiên, câu 608: Tiếng gà đã gáy lầu cao dậy nằm.
Truyện Kiều, câu 1124: Tiếng người đâu đã mé sau dậy dàng.
18.Hoa tiên, câu 622: Gót sen nhè nhẹ dao mau về nhà.
Truyện Kiều, câu 378: Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường.
19.Hoa tiên, câu 655: Chút chi gắn bó gọi rằng,
Truyện Kiều, câu 341: Chút chi gắn bó một hai,
20.Hoa tiên, câu 663: Sóng tình sao khéo mênh mang,
Truyện Kiều, câu 499: Sóng tình dường đã xiêu xiêu,
21.Hoa tiên, câu 670: Hoa sao hoa khéo rập rềnh chào xuân.
Truyện Kiều, câu 1068: Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa?
22.Hoa tiên, câu 672: Rủ rê gió sở mây tần bởi ai?
Truyện Kiều, câu 1180: Quyến anh rủ yến sự này tại ai?
23.Hoa tiên, câu 701: Nghĩ người lại ngắm vào ta,
Truyện Kiều, câu 417: Trông người lại ngẫm đến ta,
24.Hoa tiên, câu 715: Chữ tình thêm vẹn, chữ duyên càng nồng.
Truyện Kiều, câu 1570: Chữ tình càng mặn, chữ duyên càng nồng.
25.Hoa tiên, câu 731: Phất phơ tơ liễu buông rèm,
Truyện Kiều, câu 289: Lơ thơ tơ liễu buông mành
26.Hoa tiên, câu 737: May đây xin một hai điều,
Truyện Kiều, câu 329: Tiện đây xin một hai điều
27.Hoa tiên, câu 750: Lượng xuân đành quyết hẹp hòi chốc ru.
Truyện Kiều, câu345: Lượng xuân dù quyết hẹp hòi,
28.Hoa tiên, câu 774: Hai là mượn kể liệu bề mối manh.
Truyện Kiều, câu 342: Cho đành rồi sẽ liệu bề mối manh.
29.Hoa tiên, câu 783: Trên yên bút giá hương bình,
Truyện Kiều, câu 397: Trên yên bút giá thư đồng,
30.Hoa tiên, câu 785: Tiên thề tay thảo một chương.
Truyện Kiều, câu 447: Tiên thề cùng thảo một chương,
31.Hoa tiên, câu 814: Bên băng gác tía, bên dời song thưa.
Truyện Kiều, câu 362: Chàng về thư viện, nàng dời lâu trang.
32.Hoa tiên, câu 845: Cạn lời Lưu mới thưa rằng,
Truyện Kiều, câu 903: Cạn lời khách mới thưa rằng,
33.Hoa tiên, câu 849: Quản bao tuyết đợi sương chờ,
Truyện Kiều, câu 553: Quản bao tháng đợi năm chờ,
34.Hoa tiên, câu 888: Chưa cùng sum họp, nỡ nào chia phôi.
Truyện Kiều, câu 550: Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi.
35.Hoa tiên, câu 896: Tương tri có thế mới là tương tri.
Truyện Kiều, câu 3184: Tương tri dường ấy mới là tương tri!
36.Hoa tiên, câu 901: Mặt nhìn chẳng nỡ rời tay,
Truyện Kiều. câu 1979: Mặt trông tay chẳng nỡ rời,
37.Hoa tiên, câu 928: Trăm năm bẻ một chữ đồng vì ai.
Truyện Kiều, câu 1954: Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai.
38.Hoa tiên, câu 937: Ông tơ khéo lẽ đa đoan,
Truyện Kiều, câu 715: Cơ trời dâu bể đa đoan
39.Hoa tiên, câu 975: Rồi đây bèo nước lênh đênh,
Truyện Kiều, câu 2401: Rồi đây bèo hợp mây tan,
40.Hoa tiên, câu 995: Nỗi mình thêm rộn nỗi nhà,
Truyện Kiều, câu 633: Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
41.Hoa tiên, câu 1028: Với phu nhân vả cũng là đồng thân.
Truyện Kiều, câu: 154: Với Vương Quan trước vẫn là đồng thân.
42.Hoa tiên, câu 1032: Dọn lầu sửa chốn nghỉ ngơi thanh nhàn.
Truyện Kiều. câu 2209: Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,
43.Hoa tiên, câu 1075: Trăng thề vẫn đó tri tri,
Truyện Kiều, câu 541: Trăng thề còn đó trơ trơ,
44.Hoa tiên, câu 1079 - 1080:
Khi sao son gác phấn lầu/ Giờ sao tan tác mặc dầu khói sương.
Truyện Kiều, câu 1235 - 1236:
Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
45.Hoa tiên, câu 1084: Một hơi giá ngắt, hai tay lạnh đồng.
Truyện Kiều, câu 758: Một hơi lặng ngắt đôi tay lạnh đồng.
46.Hoa tiên, câu 1105: Xiết bao phận mỏng như tờ,
Truyện Kiều, câu 2777: Kiều nhi phận mỏng như tờ,
47.Hoa tiên, câu 1109: Bể sầu càng vợi càng đầy,
Truyện Kiều, câu 247 Sầu đong càng khắc càng đầy,
Truyện Kiều, câu 1537: Lửa tâm càng dập càng nồng,
Truyện Kiều, câu 2806: Lửa phiền khôn dập càng khêu mối phiền
48.Hoa tiên, câu 1198: Nào ai ấm lạnh, nào ai ngọt bùi.
Truyện Kiều, câu1630: Biết đâu ấm lạnh biết đâu ngọt bùi.
49.Hoa tiên, câu 1203: Cho hay thanh khí tương cờ,
Truyện Kiều, câu 2883: Trong cơ thanh khí tương tầm,
50.Hoa tiên, câu 1209: Nghĩ người mặt sóng chân mây,
Truyện Kiều, câu 3037: Tính rằng mặt nước chân mây
51.Hoa tiên, câu 1215: Nỉ non đêm ngắn tình dài,
Truyện Kiều, câu 1369: Nỉ non đêm ngắn tình dài,
52.Hoa tiên, câu 1223: Những là vắng mặt khuất lời,
Truyện Kiều, câu 1545: Tính rằng cách mặt khuất lời,
53.Hoa tiên, câu 1226: Bên hoa dường có nẻo thông cuối tường.
Truyện Kiều, câu 390: Cuối tường dường co nẻo thông mới rào.
54.Hoa tiên, câu 1228: Cách tường văng vẳng tiếng vàng xa đưa.
Truyện Kiều, câu 379: Cách hoa sẽ dắng tiếng vàng,
55.Hoa tiên, câu 1231: Bấy lâu mưa khóa gió rào,
Truyện Kiều, câu 385: Nàng rằng: “Gió bắt mưa cầm”
56.Hoa tiên, câu 1270: “Vì ai bèo nổi mây chìm bấy lâu”.
Truyện Kiều, câu 2475: Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
57.Hoa tiên, câu 1281: Tình kia nào phụ chi duyên,
Truyện Kiều, câu 3089: Duyên kia có phụ chi mình,
58.Hoa tiên, câu 1284: “Đã đành chiếc bách sóng đào lênh đênh”.
Truyện Kiều, câu 1957: Nàng rằng: “Chiếc bách sóng đào,”
59.Hoa tiên, câu 1295: Họa khi trời cũng chiều lòng,
Truyện Kiều, câu 2689: Khi nên trời cũng chiều người,
60.Hoa tiên, câu 1301: Thôi thì thôi có nghĩ gì
Truyện Kiều, câu 1377: Thôi thôi đã vậy thì thôi,
Truyện Kiều, câu 1175: Nàng rằng: “Thôi thế thì thôi”
61.Hoa tiên, câu 1321: Súng đâu dậy tiếng đùng đùng,
Truyện Kiều, câu 2619: Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
62.Hoa tiên, câu: 1346: Hiếu tình cân lại nhắc đi cho tuyền.
Truyện Kiều, câu 2680: Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều.
63.Hoa tiên, câu 1363: Bỗng dưng mua não chuốc sầu mà chơi.
Truyện Kiều, câu 236: Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao!
64.Hoa tiên, câu: 1375: Vẻ chi một mảnh hồng quần,
Truyện Kiều, câu 669: Vẻ chi một mảnh hồng nhan,
65.Hoa tiên, câu 1378: Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh
Truyện Kiều, câu 2164: Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.
66.Hoa tiên, câu 1403: Phận sao, phận bạc như tờ,
Truyện Kiều, câu753:  Phận sao phận bạc như vôi,
67.Hoa tiên, câu 1404: Nợ sinh thành biết bao giờ trả xong.
Truyện Kiều, câu 878: Công cha nghĩa mẹ kiếp nào trả xong!
68.Hoa tiên, câu 1432: Biết thân mình, biết phận mình, thế thôi.
Truyện Kiều, câu 220: Biết duyên mình, biết phận mình, thế thôi!
69.Hoa tiên, câu 1446: Lần nghe văng vẳng canh chầy điểm ba.
Truyện Kiều, câu 2026: Lần nghe canh đã một phần trống ba.
70.Hoa tiên, câu 1455 - 1456:
Trông vời trời bể mênh mang/ Đem thân băng tuyết gửi hàm giao long.
Truyện Kiều, câu 2635 - 2636:
Trông vời con nước mênh mông/ Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang.
71.Hoa tiên, câu 1471: Tiếc thay trong ngọc trắng ngà,
Truyện Kiều, câu 1191: Tiếc thay trong giá trắng ngần,
72.Hoa tiên, câu 1472: Nỡ hoài chi để trôi hoa, giạt bèo.
Truyện Kiều, câu 2812: Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo.
73.Hoa tiên, câu: 1488: Thà liều sóng bạc cho rồi ngày xanh.
Truyện Kiều, câu 2164: Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh.
74.Hoa tiên, câu 1507: Mối sầu đòi đoạn như tơ,
Truyện Kiều, câu1265: Mối sầu đòi đoạn vò tơ,
75.Hoa tiên, câu 1516: Biết đâu tăm cá bóng chim bây giờ.
Truyện Kiều, câu 2944: Bóng chim tăm cá biết đâu mà nhìn.
76.Hoa tiên, câu 1540: Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
Truyện Kiều, câu 2504: Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
77.Hoa tiên, câu 1588: Đỉnh chung hầu dễ ăn ngồi được đâu.
Truyện Kiều, câu 2938: Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an!
78.Hoa tiên, câu 1617: Chưa cầm sắt cũng tao khang,
Truyện Kiều, câu 215: Chưa chăn gối cũng vợ chồng,
79.Hoa tiên, câu 1688: Đồi dào tình trước, đền bồi nghĩa sau.
Truyện Kiều, câu 2690: Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau.
80.Hoa tiên, câu 1701: Nghìn xưa âu hẳn một người,
Truyện Kiều, câu 1907: Nghìn xưa âu cũng thế này,
81.Hoa tiên, câu 1702: Ấy ai lại dám xem ai là thường.
Truyện Kiều, câu 2186: Thân này còn dám xem ai là thường.
82.Hoa tiên, câu 1703: Vả vì chút nghĩa cũ càng,
Truyện Kiều, câu 2241: Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,
83.Hoa tiên, câu 1713: Khi ăn nói, lúc ra vào,
Truyện Kiều, câu 2845: Khi ăn ở lúc ra vào,
84.Hoa tiên, câu 1793: Đòi phen cợt phấn cười hồng,
Truyện Kiều, câu 1591: Những là cười phấn cợt son,
Hoa tiên truyện được Nguyễn Thiên nhuận sắc có độ dài 1826 câu thơ lục bát, còn bản Hoa tiên được cho rằng gần với nguyên tác của Nguyễn Huy Tự có độ dài 1532 câu thơ lục bát, như vậy khi nhuận sắc Hoa tiên Nguyễn Thiện đã thêm vào 284 câu thơ lục bát. Do đó ta không thể biết được câu thơ nào Nguyễn Du tham khảo từ Hoa tiên, câu thơ nào Nguyễn Thiện lấy từ Truyện Kiều. Chúng tôi đã tiến hành đối chiếu, so sánh thống kê được trong Truyện Kiều và trong Hoa tiên truyện 84 câu thơ tương tự nhau, trong đó  3 câu thơ giống nhau hoàn toàn (10, 51, 76), 11 câu thơ chỉ khác nhau một chữ (14, 26, 30, 32, 40, 64, 65, 66, 68, 74, 83).
3. Sự tương đồng về nghệ thuật thơ trong Truyện Kiều và trong Hoa tiên truyện
a. Sự lặp từ: Những câu thơ lặp từ rất hay, rất độc đáo có cả trong Hoa tiên và trong Truyện Kiều.
Trong Hoa tiên:
Câu 987: Nào gương, nào chỉ, nào kim,
Câu 558: Lạ trăng, lạ nước, lạ mây, thực là…
Câu 566: Đã sương, đã khói, đã vài năm nay.
Câu 62: Một trăng, một bóng, một người hóa ba.
Có một đoan trong Hoa tiên lặp từ Kìa đâu rất hay trong 9 cặp lục bát từ câu 1001 - 1016, xin trích dẫn 6 cặp:
1003. Kìa đâu mây tận chân ngàn,
Lưng đèo xao xác, hợp tan chợ chiều.
Kìa đâu viễn phố quạnh hiu,
Chân trời thấp thoáng con chèo về khơi.
Kìa đâu bờ bến lôi thôi,
Ngư thôn mấy móc, mặt trời tà dương.
Kìa đâu nghi ngút khói sương,
Chày khuya mấy tiếng, chuông vang bên chùa.
Kìa đâu nước lạnh trời thu,
Động đình phẳng lặng mặt hồ trăng in.
Kìa đâu ban tối đỗ thuyền,
1014. Trắng bay hoa tuyết giang thiên một màu.
Trong Truyện Kiều:
Câu 2981: Này chồng, này mẹ, này cha,
Câu 1982: Này là em ruột, này là em dâu
Câu 557: Còn non, còn nước, còn dài,
Câu 558: Còn về, còn nhớ, đến người hôm nay.
b. Nhịp điệu câu thơ
Đọc hai tác phẩm thơ Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự và Truyện Kiều của Nguyễn Du, ta còn thấy sự giống nhau về kết cấu nhịp điệu câu thơ, ví dụ:
Nhịp điệu 3/3 đối cân của câu lục, trong Hoa tiên, câu 
231: Người đài nước, kẻ lò than,
549: Người lại các, kẻ về hiên,
699: Nền thi lễ, nếp đai cân,
Nhịp điệu 4/4 đối cân của câu bát, trong Hoa tiên, câu 
74: Rặng cây khuất khuất, lưng cầu khom khom.
98: Càng tươi tỉnh nét, càng say sưa tình.
232: Kẻ lồng đệm thúy, người cài chiếu hoa.
Nhịp điệu 3/5 của câu bát, trong Hoa tiên, câu 
1106: Nợ bình sinh, nỗi tóc tơ chưa đền
722: Ngóng tin ai, những mơ màng chờ thăm.                                     
Nhịp điệu 3/3/2 của câu bát, trong Hoa tiên, câu 
218: Hoa đâu rụng, lá đâu rơi, trước rèm.
556: Bốn mùa cảnh, bốn mùa trời, xinh thay.
1244: Vẫn ghi lòng, kẻo thẹn lời với hoa.
1110: Đã đường kia, lại nỗi này, mới ghê!
Nhịp điều 2/2/2/2 của câu bát, câu 558: 
Lạ trăng, lạ nước, lạ mây, thực là.
Nhịp điệu 2/2/4, câu 566: 
Đã sương, đã khói, đã vài năm nay.
Trong Hoa tiên Nguyễn Huy Tự tuân thủ luật lục bát từ đầu đến cuối. Đặc biệt trong Hoa tiên khác với trong Truyện Kiều là có một câu bát làm theo kiểu đối cân và cũng phá vỡ luật lục bát ở chữ gầy thứ hai, có tới 5 vần trắc:
1160: Núi gầy võ vóc, sông quanh quẩn lòng.
Trong Truyện Kiều đều có tất cả các nhịp điệu câu thơ như trong Hoa tiên, ngoài ra Nguyễn Du còn phá vỡ luật lục bát, sáng tạo ra một loại lục bát mới và được các nhà thơ và nhà bình luận ngày nay công nhận. Cách đối cân trong cùng một câu lục hoặc câu bát, tức là chia câu thơ làm hai vế:
cổ thụ, có sen hồ
Khi gió gác, khi trăng sân
Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.
Nói Nguyễn Du đã phá vỡ luật lục bát, tức là đã phạm luật lục bát, là ở chỗ chữ thứ hai câu lục đáng lẽ là vần bằng, thì Nguyễn Du lại đổi ra vần trắc, còn chữ thứ tư đáng lẽ là vần trắc, thì Nguyễn Du lại đổi ra vần bằng. Câu bát có đối cân hoặc không có đối, Nguyễn Du vẫn tuân thủ luật lục bát.
Đối chuẩn (đối chọi) trong câu lục là đối từng âm tiết, bằng trắc:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Nền phú hậu, bậc tài danh
Người yểu điệu, kẻ văn chương.
Việc phá vỡ luật lục bát nhằm đa dạng nhịp điệu câu thơ và làm cho câu thơ mạnh mẽ hơn, vì tăng được số lương âm trắc trong câu lục:
Nước vỏ lựu, máu mào gà (4 trắc)
Hết nạn ấy, đến nạn kia (5 trắc).
Truyện KiềuHoa tiên truyện là những truyện thơ lục bát hay của Việt Nam, đã góp phần làm phong phú cho thơ Lục bát, cho văn chương và ngôn ngữ Việt.
                                                         Hà Nội ngày 2.2.2020
                                                              LÊ THANH LONG

Thứ Hai, 20 tháng 1, 2020

THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU


THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU

                                                         LÊ THANH LONG

Trong Truyện Kiều nhiều lần Nguyễn Du nói đến thời gian và khoảng thời gian chỉ mốc thời gian xẩy ra các sự kiện, vậy thời gian và khoảng thời gian đó thể hiện ra như thế nào và chính xác đến mức nào?
1. Thời gian Kim Trọng về hộ tang chú
Nguyễn Du viết câu thơ rất hay mà ai cũng thích:
2747. Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Nhiều người đọc câu thơ này nghĩ rằng sau một năm Kim Trọng mới trở lại, vì câu thơ có chữ “năm ngoái”. Nhưng thực ra chữ “năm ngoái” ở đây không phải để chỉ thời gian cái năm ngoái lúc hai người gặp nhau khi hoa đào đang nở. Mà “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” là nói về bông hoa đào Thúy Kiều, lúc gió đông về, tức gió xuân về, lúc đó đang nở đẹp rực rỡ, mà bây giờ không thấy bông hoa đào ấy đâu nữa.
Khi Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về hộ tang chú, Kim Trọng nói với Thúy Kiều:
543. Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!
Ông chú không có con trai, Kim Trọng là cháu thừa tự nên phải về Liêu Dương hộ tang chú ba năm. Ở ngoài xa hàng nghìn dặm, xa nhau ba năm, không bỗng chốc mà có thể trở lại gặp nhau được, mối sầu chia ly này, gỡ cho xong còn lâu lắm đấy. Nhưng thực tế Kim Trọng về hộ tang chú, chỉ sau 6 tháng đã quay trở lại Bắc Kinh:
2741. Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
2. Kim Trọng về chịu tang chú và trở lại Bắc Kinh là vào thời điểm nào?
Kim Trọng và Thúy Kiều gặp nhau trong Hội Đạp thanh vào đầu tháng ba:
39.Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Ánh sáng mùa xuân có chín mươi ngày mà đã ngoài sáu mươi ngày là đã bước sang đầu tháng ba:
43. Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ ngày là đạp thanh
Gặp Thúy Kiều ở Hội Đạp thanh về, Kim Trọng thuê trọ ở nhà Ngô Việt thương gia được hai tháng 287. Nhẫn từ quán khách lân la/ Tuần trăng thấm thoát nay đà thêm hai, thì gặp lại Thúy Kiều, hai người hứa hẹn trăm năm và trao nhau của tin, lúc này là vào cuối xuân. Đến đầu hạ Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau ở nhà trọ của Kim Trọng:
369. Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Nhân dịp cả nhà đi dự sinh nhật bên nhà ngoại, Thúy Kiều đem theo đồ ăn sang gặp Kim Trọng:
377. Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
Hai người cắt tóc ăn thề:
447. Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Đôi trai gái gặp nhau được đúng một ngày thì Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về hộ tang chú, đó là vào đầu hạ. Sáu tháng sau Kim Trọng trở lại nhà ở Bắc Kinh, đến nhà Thúy Kiều, đó là vào đầu đông. Lúc này nhà Thúy Kiều đã là nhà hoang:
2747. Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Như vậy Kim Trọng trở lại là vào đầu đông. Đầu đông hoa đào chưa thể nở được.
3. Từ Hải chia tay thúy Kiều sau bao lâu thì quay về cưới Thúy Kiều?
Từ Hải sống với Thúy Kiều được nửa năm thì “trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” nên chia tay Thúy Kiều đi tìm sự nghiệp:
2213. Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mông,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong.
Thúy Kiều muốn đi theo, Từ Hải nói với Thúy Kiều:
2227. Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì.
Vậy có phải một năm sau Từ Hải đã quay về cưới Thúy Kiều?
Theo ý chúng tôi Từ Hải nói câu này chỉ là để động viên Thúy Kiều ở lại, chứ Từ Hải không thể dự đoán được chỉ một năm sau đã hoàn thành sự nghiệp thu phục non sông. Vậy Từ Hải đi bao lâu thì quay lại cưới Thúy Kiều. Nguyễn Du chỉ nói đến nỗi nhớ của Thúy Kiều hướng về phương trời xa xôi đăm đăm, nhớ đến “mòn con mắt” cái nơi đôi cánh chim hồng hạc đang bay bổng tuyệt vời ở phương trời sự nghiệp:
2247. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Thúy Kiều trong khi nghĩ về bố mẹ có nói một câu:
2239. Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Câu thơ này cũng chỉ cho ta biết chung chung là Thúy Kiều đi khỏi nhà đã được hơn chục năm.
Thúy Kiều nhìn thấy Từ Hải lúc trở về cưới Thúy Kiều, nhân xét:
2273. Rỡ mình lạ vẻ cân đại,
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa.
Dựa vào những câu thơ nêu ra ở trên và sự nghiệp Từ Hải đạt được, ta có thể dự đoán là Từ Hải đi rồi quay lại cũng khá lâu chứ chắc không phải một năm.
Nguyễn Du nói về sự nghiệp của Từ Hải:
2449. Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Trước mặt Hồ Tôn Hiến Thúy Kiều ca ngợi sự nghiệp của Từ Hải:
2555. Năm năm trời bể ngang tàng,
Dấn mình đi bỏ chiến trường như không.
Từ khi đi gây dựng sự nghiệp đến khi chiếm được 5 huyện thành là 5 năm.
Quãng thời gian sau khi Từ Hải giúp Thúy Kiều trả được mối thù riêng đến khi bị Hồ Tôn Hiến lừa và bị chết đứng, Nguyễn Du chỉ mô tả:
2439. Thừa cơ trúc chẻ ngói tan,
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện Thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
Từ những mô tả trên, ta không thể biết được Từ Hải đã đi bao lâu rồi quay về.
Thời gian Kiều lưu lạc là 15 năm. Từ Hải “năm năm hùng cứ một phương hải tần”. Như vậy khi Từ Hải chia tay Kiều ra đi lập nghiệp thì Kiều đã lưu lạc được trên 10 năm. Trong lời tâm sự nhớ bố mẹ Thúy Kiều nói “chốc đà mười mấy năm trời, còn ra khi đã da mồi tóc sương”. Như vậy lúc này Thúy Kiều đã lưu lạc được mười mấy năm trời rồi, suy ra Từ Hải đã ra đi được mấy năm chứ không phải 1 năm.
Trong Kim Vân Kiều truyện có nói Từ Hải tức Từ Minh Sơn đi ba năm:
“Lại nói, Thúy Kiều thấy Từ Minh Sơn đi luôn ba năm tuyệt nhiên không có tin tức gì cả. Một ngày kia bỗng có tin quân giặc kéo đến rất đông, nhân dân trong vùng đều chạy trốn hết. Bọn người nhà đều giục Thúy Kiều nên rời chỗ ở…”
“Cách ít lâu, bỗng có toán quân đông ước vài nghìn và hơn mười vị tướng, thình lình kéo đến, vây quanh ngôi nhà, rồi hô lớn:
- Vương phu nhân có ở đây không? Chúng tôi phụng mệnh Từ Minh Sơn thiên tuế đến đón phu nhân!”
4. Thúy Kiều bán mình vào lúc nào?
Thúy kiều bán mình cùng thời gian Kim Trọng về hộ tang chú và chỉ sau vài ngày hai người gặp nhau ở nhà trọ của Kim Trọng.
Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng lúc đầu hè:
369. Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngay sáng hôm sau Kim Trọng nhận được tin phải về hộ tang chú, vài ngày sau Kim Trọng lên đường về Liêu Dương:
565. Buồn trông phong cảnh quê người,
Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.
Ngay sau đó gia đình Vương Ông vướng vào lao lý và Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha:
605. Quyết tình nàng mới hạ tình:
“Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”
Mã Giám Sinh mua và cưới Thúy Kiều vào đầu hạ. Trên đường Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đi đã là mùa thu:
911. Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người.
917. Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đến lầu xanh của Tú Bà mất một tháng:
919. Những là lạ nước lạ non,
Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi
Lúc này có lẽ đã là vào giữa thu. Như vậy từ lúc Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh đến khi đến lầu xanh của Tú Bà là khoảng 4 - 5 tháng; từ đầu hạ đến khoảng giữa thu.
Sau đó Tú Bà đưa Kiều đến lầu Ngưng Bích. Thúy Kiều làm thơ nói về “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Sở Khanh nghe thấy và họa vần. Lúc này vẫn là mùa thu:
1073. Song thu đã khép cánh ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh
Sở Khanh đưa Kiều đi trốn vẫn trong mùa thu:
1119. Đêm thu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.
5. Thúc Sinh chuộc và cưới Thúy Kiều vào lúc nào?
Thúc Sinh gặp Thúy Kiều vào đầu xuân và sau đó chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh:
1283. Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!
Đôi trai gái sống với nhau được nửa năm từ đầu xuân cho đến đầu thu:
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
Giậu thu vừa nảy giò sương,
Gối yên đã thấy xuân đường tới nơi.
Thúc Ông trở lại nổi giân và đưa đơn kiện lên quan phủ. Quan phủ giảng hòa và còn làm lễ cưới cho đôi trai gái Thúc Sinh - Thúy Kiều. Như vậy là Thúc Sinh cưới Thúy Kiều vào đầu thu. Hai người sống với nhau được một năm từ đầu thu năm nay sang đầu thu năm sau thì Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả Hoạn Thư. 
6. Thúc Sinh về nhà thăm Hoạn Thư hai lần vào lúc nào?
Thúc sinh và Thúy Kiều sống với nhau từ đầu thu, qua đông, qua xuân sang đến hạ:
1473. Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh
Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thú thật với vợ cả Hoạn Thư là mình lấy vợ lẽ. Đến lúc này hai người đã cưới nhau được một năm:
1487. Mà ta suốt một năm ròng
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào.
Thúy Kiều tiễn Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vào mùa thu:
1519. Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Thúc Sinh ở nhà được một năm mà không dám nói ra với Hoạn Thư việc mình lấy vợ lẽ Thúy Kiều. Và lúc này trời đã lại sang thu:
1593. Thú quê thuần vược bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô
Lá ngô đồng đã rụng một vài chiếc lá vàng xuống cái giếng nước quý là trời đã sang thu. Hoạn Thư biết ý Thúc Sinh nhớ Thúy Kiều muốn trở về nên nhắn tin qua là đã một năm rồi cũng phải về mà chăm sóc cha già:
1599. Cách năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn
Về đến nhà ở Lâm Tri Thúc Sinh được tin Thúy Kiều đã chết. Buồn quá chỉ biết lấy câu vận mệnh mà khuây dần nỗi nhớ thương. Các mùa nối tiếp nhau trôi đi nhanh chóng:
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Một năm sau, nhớ quê hương chàng Thúc Sinh lại tìm đường thăm quê:
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê
Lúc này là vào mùa thu, nên Hoạn Thư nói câu:
1833. Khen rằng: “Hiếu tử đã nên,
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu”.
Như vậy tổng số thời gian từ khi Thúc Sinh gặp Thúy Kiều cho đến khi gặp lại Thúy Kiều ở nhà Hoạn Thư là 3 năm 6 tháng.
7. Thúy Kiều bị bắt khi nào và ở nhà Hoạn Thư bao lâu?
Ngay khi Thúc Sinh từ Vô Tích trở về Lâm Tri vào đầu thu, thì Hoạn Thư cũng về bên mẹ là Hoạn Bà trình bày kế hoạch đi bắt Thúy Kiều bằng đường Thủy:
1613. Lâm Tri đường bộ tháng chày
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
Từ Vô Tích về Lâm Tri thúc Sinh đi bằng đường bộ phải mất cả tháng, đi bằng đường biển thì gần hơn, mất ít thời gian hơn. Hoạn Thư sửa sang thuyền buồm cử Khuyển Ưng đi bắt Thúy Kiều về:
1707. Khuyển Ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Như vậy Thúy Kiều bị bắt về nhà Hoạn Bà là vào đầu thu, làm con hầu, đổi tên thành Hoa nô. Sau đó Kiều được đưa sang nhà Hoạn Thư làm con hầu.
Bốn mùa cứ nối tiếp qua đi, thời gian trôi đi nhanh chóng:
Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Thúc Sinh:
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê
Thúc Sinh gặp Thúy Kiều ở nhà Hoạn Thư và màn “ghen Hoạn Thư” nổi tiếng xẩy ra ở đây, đó là vào mùa thu nên có câu:
1834. Tẩy trần mượn chén giải phiên đêm thu
Đến lúc này Thúy Kiều đã ở nhà Hoạn Thư được một năm.
Và ngay sau đó Thúy Kiều xin được xuất gia và Hoạn Thư cho ở Quan Âm Các “giữ chùa tụng kinh”. Thúy Kiều đã ở đây được vài tháng:
1933. Sồng nâu từ trở màu thiền,
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.
Nhân lúc Hoạn Thư về nhà mẹ đẻ, Thúc Sinh lẻn đến Quan Âm Các gặp Thúy Kiều, Hoạn Thư bắt được quả tang và khi Thúy Kiều biết Hoạn Thư đã nghe hết mọi chuyện hai người nói với nhau thì kinh sợ và quyết định bỏ trốn.
Thúy Kiều trốn đến ở Chiêu Ẩn Am được khoảng ba tháng từ cuối thu cho đến đầu xuân:
2061. Cửa thiền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời
Thì bị lộ tung tích phải thú thật với sư Giác Duyên mọi chuyện. Giác Duyên sợ bị nhà Hoạn Thư biết thì nguy hiểm, nên thương hại gửi Thúy Kiều sang trốn ở nhà Bạc Bà. Như vậy Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am từ cuối thu đến đầu xuân được trên ba tháng.
Bạc Bà dọa và lừa buộc Thúy Kiều lấy Bạc sinh, rồi lừa đưa đến Châu Thai bán cho nhà hàng viện, Thúy Kiều lại rơi vào lầu xanh lần thứ hai.
Ở Châu Thai Thúy Kiều gặp Từ Hải.
Như vậy thời gian Thúy Kiều ở lầu xanh của Tú Bà và ở kĩ viện Châu Thai bao lâu thì cả Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều không nói.
Từ khi Thúy Kiều bán mình theo Mã Giám Sinh cho đến khi gieo mình xuống sông Tiền Đường là 15 năm:
2643. Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!
Thúy Kiều than trong mười lăm năm đã có không biết bao nhiêu lần bị oan khổ lưu ly
Tóm tắt lại thời gian Thúy Kiều lưu lạc trong 15 năm ấy ta biết được:
1. Thời gian từ khi bán mình lấy Mã Giám Sinh đến khi về đến lầu xanh của Tứ Bà và bị Sở Khanh lừa là khoảng 6 tháng.
2. Thời gian ở lầu xanh của Tú Bà: Không biết bao lâu.
3. Thời gian Thúc Sinh chuộc Kiều ra rồi cưới Kiều, hai người sống với nhau được 1 năm 
     6 tháng.
4. Thời gian Kiều sống một mình ở Lâm Tri chờ Thúc Sinh về quê là 1 năm.
5. Thời gian Kiều ở nhà Hoạn Bà và Hoạn Thư là 1 năm.
6. Thời gian Kiều tu ở Quan Âm Các là vài tháng (vẫn trong mùa thu).
7. Thời gian Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am là trên 3 tháng.
8. Thời gian Thúy Kiều ở kĩ viện Châu Thai: Không biết bao lâu.
9. Thời gian Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi kĩ viện Châu Thai và sống với nhau là 6 tháng.
10. Thời gian Kiều chờ Từ Hải đi tìm sự nghiệp:
       Trong Truyện Kiều Từ Hải nói là 1 năm.
       Trong Kim Vân Kiều truyện là 3 năm.
11. Tổng số thời gian Kiều chờ Từ Hải và sống với Từ Hải là 5 năm 6 tháng.
Tổng số thời gian Kiều lưu lạc ta biết được như đã liệt kê ra ở trên là 10 năm.
Còn trống hai khoảng thời gian Kiều ở lầu xanh của Tú Bà và ở kĩ viện Châu Thai. Thời gian lưu lạc của Thúy Kiều là 15 năm, vậy suy ra thời gian Kiều 2 lần ở lầu xanh là 5 năm.
Qua đây ta thấy Nguyễn Du dùng hình ảnh cây cỏ, hoa lá, chim muông, khí hậu… các mùa để chỉ thời gian và khoảng thời gian xẩy ra các sự kiện, chúng gắn liền với tâm tư tình cảm của Thúy Kiều và các nhân vật. Nguyễn Du có chủ ý mô tả rất chính xác các mùa và các mốc thời gian. Cách mô tả thời gian bằng hình ảnh các mùa làm cho người đọc hứng thú và không bị nhàm chán khi chỉ nói về thời gian một cách đơn thuần. Lấy cảnh bốn mùa để mô tả thời gian sự việc là đặc trưng riêng của thơ Kiều Nguyễn Du.
                                               Hà Nội ngày 2.12.2019
                                                             L.T.L.

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020

Hai kinh đô thời Gia Tĩnh trong Truyện Kiều và kiến trúc sư trưởng người Việt Nam xây dựng Tử Cấm Thành


HAI KINH ĐÔ THỜI GIA TĨNH TRONG TRUYỆN KIỀU
VÀ KIẾN TRÚC SƯ TRƯỞNG 
NGƯỜI VIỆT NAM
XÂY DỰNG TỬ CẤM THÀNH

                                       LÊ THANH LONG

Trong Truyện Kiều Nguyễn Du giới thiệu về thời gian câu chuyện xẩy ra có câu thơ:
9. Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Sau đó trong lời kể của lại già họ Đô với Kim Trọng, về sự lưu lạc của Thúy Kiều, Nguyễn Du còn nói rõ kinh đô đó là Bắc Kinh trong câu thơ:
2889. “Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
             Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về,”
Có người cho rằng thời Gia Tĩnh hai kinh là Kim Lăng và Yên Kinh chứ không gọi là Nam Kinh và Bắc Kinh như sau đó và ngày nay. Không ít người còn chưa hiểu rõ, nên khi viết về Truyện Kiều cũng hay gọi hai kinh đô là Kim Lăng (Nam Kinh) và Yên Kinh (Bắc Kinh). Nói như thế chẳng hóa ra là Nguyễn Du viết sai.
Vậy hai kinh thời Gia Tĩnh, lúc sự việc xẩy ra trong Truyện Kiều, thực sự tên là gì và được xây dựng vào lúc nào?
Gia Tĩnh là niên hiệu vua Thế Tông nhà Minh (1522 - 1566). Nhà Minh (1368 - 1644). Năm 1368 Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lập ra Đại Minh, đăng quang tại phủ Ứng Thiên, đổi tên Kim Lăng thành Nam Kinh. Minh Thành Tổ (1402 - 1424) cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh, đổi tên thành Bắc Kinh. Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh được xây dựng từ năm 1406 - 1420 thì hoàn thành.
Như vậy Kim Lăng được Chu Nguyên Chương đổi tên thành Nam Kinh vào năm 1368. Còn Yên Kinh được Minh Thành Tổ đổi tên thành Bắc Kinh vào năm 1402 và xây dựng xong Tử Cấm Thành vào năm 1420.
Như vậy tên Nam Kinh (1368) và Bắc Kinh (1402) có trước cả thời Gia Tĩnh triều Minh (1502 - 1566). Nguyễn Du hoàn toàn chính xác khi nói về hai kinh là Nam Kinh và Bắc Kinh thời Gia Tĩnh.
Minh Thành Tổ mất sau khi Bắc Kinh xây xong được 4 năm. Năm 1421 hoàng đế Vĩnh Lạc chuyển vào sống trong quần thể cung điện và Bắc Kinh trở thành thủ đô mới. Từ đây, Tử Cấm Thành lần lượt được cai trị bởi 24 vị vua (giữa nhà Minh đến cuối nhà Thanh). Năm 1912, hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc thoái vị
Minh Thành Tổ khi lên ngôi dời kinh đô lên phía bắc, ông muốn xây dựng một Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh thật hoành tráng chưa từng có, sánh ngang trời đất, chỉ trong một thời gian ngắn. Các công trình sư bị một sức ép rất lớn về thời gian và quy mô là phải xây dựng một Tử Cấm Thành rộng lớn hoành tráng và nhanh nhất. Minh Thành Tổ muốn vua chư hầu đến Bắc Kinh nhìn thấy sự hùng tráng của Tử Cấm Thành, để tạo cho họ ấn tượng là bản thân mình thật nhỏ bé và Đại Minh thật vĩ đại. Ngày nay những người đến tham quan chiêm ngưỡng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh đều có ấn tượng, là cảm thấy mình thật nhỏ bé trước khung cảnh mênh mông rộng lớn và vĩ đại của nó.


Thành Tổ (1402 - 1424) đời Minh cho dời đô từ Nam Kinh lên Yên Kinh đổi tên thành Bắc Kinh. Tử Cấm Thành Bắc Kinh được xây dựng trong 14 năm, từ năm 1406 - 1420 thì hoàn thành.
Tử Cấm Thành có diện tích là 720.000 m2, gồm 800 cung, 9999 phòng, số nhân lực xây dựng ước khoảng 1 triệu người.
Thành Bắc Kinh có lịch sử lâu đời và phong phú, nó được thành lập từ cách nay 3.000 năm, trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa vào năm 221 TCN. Bắc Kinh là thủ đô của nước Kế rồi nước Yên trong hàng thế kỷ. Nhà Đường năm 759 và nhà Nguyên năm 1215 gọi là Yên Kinh, đến nhà Minh năm 1406 gọi là Bắc Kinh.
Tử Cấm Thành được thiết kế bởi nhiều kiến trúc sư và nhà thiết kế. Các kiến trúc sư trưởng là Sái Tín, Trần Khuê, Ngô Trung và thái giám Nguyễn An (một người Việt Nam), còn các tổng công trình sư là Khoái Tường và Lục Tường.


Năm 1407, hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh sang xâm lược Việt Nam, đánh bại nhà Hồ. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc, còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, chọn để hoạn làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh. Trong số này có nhiều người sau trở nên nổi tiếng vì tài giỏi như: Nguyễn An, Phạm Hoằng, Vương Cấn,...
Theo "Minh Sử", Nguyễn An (1381 - 1453) người vùng Hà Đông (Hà Nội, Việt Nam ngày nay) là người có công lớn trong việc xây dựng Tử Cấm Thành.
Năm Vĩnh Lạc 14 (1416) theo lệnh của Minh Thành Tổ, Nguyễn An khi ấy mới ngoài 30, đã được giao trọng trách làm kiến trúc sư trưởng xây dựng thành Bắc Kinh mới (Cố Cung). Ông cùng với các kiến trúc sư trưởng khác xây dựng Tử Cấm Thành. Hàng triệu nhân công đã làm việc trong suốt 14 năm để hoàn thành công trình phức tạp và tốn kém này. Năm 1421, hoàng đế chuyển vào sống trong quần thể cung điện và Bắc Kinh trở thành thủ đô mới.
Nguyễn An (1381-1453), còn gọi là A Lưu tên gọi ở Trung Hoakiến trúc sư thời xưa, người Việt. Ông cùng với Sái Tín, Trần Khuê, Ngô Trung là những kiến trúc sư trưởng xây dựng Tử Cấm Thành Bắc Kinh, Trung Quốc.
Nguyễn An sinh năm Tân Dậu (1381), quê ở vùng Hà Đông, nay thuộc địa phận thành phố Hà Nội. Năm 1407, nhà Minh sang đánh bại nhà Hồ, ngoài việc bắt cha con Hồ Quý Ly cùng toàn bộ triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc, còn tiến hành lùng bắt các thanh thiếu niên trai trẻ tuấn tú của Việt Nam mang sang Trung Hoa, Nguyễn An bị bắt sang  làm Thái giám phục vụ trong cung vua nhà Minh.
Nguyễn An không những tham gia xây dựng Tử Cấm Thành thời Minh Thành Tổ (1402-1424) mà còn tham gia trùng tu sửa chữa, xây mới nhiều công trình về sau này.
Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng Thành nội tức là Hoàng thành (thêm hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ, và dinh thự công sở các ty), Thành ngoại với 9 cửa kinh sư: cửa Chính Dương (có 1 chính lầu và 3 gian Nguyệt thanh lâu), và các cửa: Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triệu Dương, Phụ Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Dinh, Đức Thắng (mỗi cửa này đều có 1 chính lầu và 1 Nguyệt thanh lâu (lầu ngắm trăng)). Công việc trên được ông chỉ huy thực hiện hoàn thành trong hơn hai năm, rút ngắn tiến độ được gần một năm, mà lại chỉ dùng hết một vạn nhân lực để thi công. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440), ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ và lệnh cho xây dựng và trùng tu ba điện: Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, cùng hai cung: Càn Thanh, Khôn Ninh (hai cung, ba điện này được xây xong năm 1420, nhưng năm 1421 lại bị sét đánh hư hại). Đến tháng 10 năm sau (1441) thì công việc này xong, vua nhà Minh thưởng cho Nguyễn An: 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền. Đến tháng 10 năm Chính Thống 10 (1445), ông lại được giao xây dựng lại tường thành Bắc Kinh, vốn trước bên ngoài xây bằng gạch nhưng ở trong đắp đất nên hễ mưa là sụt.
Nguyễn An còn xây dựng các công trình trị thủy hệ thống sông Hoàng Hà
Các công trình do Nguyễn An thiết kế và xây dựng ở Trung Quốc
+ Cửa Chính Dương, còn gọi là Tiền Môn, ở phía Nam quảng trường Thiên An Môn, ngày nay vẫn còn tồn tại, là cửa chính trong 9 cửa của Ngoại thành (thành ngoài) đều do ông xây dựng năm 1437 - 1439.
+ Ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái và Cẩn Thân, được xây năm 1417 - 1420, trùng tu 1440 - 1441, đến triều đại nhà Thanh được đổi tên lần lượt thành Thái Hòa, Trung Hòa và Bảo Hòa.
+ Hai cung Càn Thanh cung và Khôn Ninh cung, được xây năm 1417 - 1420, trùng tu năm 1440 - 1441.
+ Dinh thự công sở các cơ quan triều đình: phủ Tôn Nhân, Bộ LạiBộ LễBộ HộBộ BinhBộ HìnhBộ Công, Hồng Lô Tự, Khâm Thiên Giám, Viện Thái Y, Viện Hàn Lâm và Quốc Học (Quốc Tử Giám)... Trong các công trình này, nay còn lại Quốc Học tức là Thư viện Thủ đô Bắc Kinh ngày nay.
+ Thành trì Bắc Kinh thời đó có chu vi 68 dặm. Những năm Vĩnh Lạc (Minh Thành Tổ (1403-1424)) và Tuyên Ðức (Minh Tuyên Tông (1426-1435)) được xây phía ngoài bằng gạch, nhưng bên trong tường thành vẫn còn làm bằng đất, nên gặp phải khi mưa dầm lụt lội, tường thành thường hay sụp đổ. Nguyễn An xây dựng, tu sửa lại cả phía trong và phía ngoài, tường thành Bắc Kinh từ đó cao đến 3 trượng 5 thước (dưới triều nhà Minh mỗi thước dài 31,1 cm, nên 3 trượng rưỡi tức là bằng 10,885 m), nền tường thành dày 6 trượng 2 thước (19,280 m), mặt thành rộng 5 trượng (15,550 m).
Minh sử quyển 304 - Liệt truyện 192 - Hoạn quan nhất chép về ông rất ngắn (sau Trịnh Hòa, Hầu Hiển, Kim Anh, Hưng An, Phạm Hoằng, Vương Cấn), nhưng có đề cập tới việc xây dựng thành trì, cung điện, các sở quan tại Bắc Kinh cũng như trị thủy…
Năm 1453, niên hiệu Cảnh Thái thứ tư, đời vua Minh Đại Tông (Cảnh Đế) (1450 - 1456), sông Trương Thu ở Sơn Đông vỡ đê, tu sửa mãi không xong, ông lại được vua nhà Minh cử đến đó để trị thủy rồi mất ở dọc đường.
Nguyễn An là người hết lòng vì công việc, tận tụy, cần mẫn, thanh bạch, liêm khiết, trước khi mất, Nguyễn An trăn trối: đừng xây lăng mộ cho ông như những người có công thời ấy thường làm, mà nên đem toàn bộ của cải của ông góp vào quỹ công, để phát chẩn cho dân bị lụt ở Sơn Đông, những nơi ông đang đi mà chưa tới.
Nhà sử học Trương Tú Dân (Trung Quốc) đánh giá về công lao và đức độ của Nguyễn An và nỗi buồn nhân thế đối với một con người phải lưu lạc tha hương:
"Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan trăm ngàn người không được một. Còn An hết lòng vì công việc, thanh bạch, liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không có nén vàng nào trong túi, là một con người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Kinh. Nguyễn An là người kiệt xuất trong hoạn quan, công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay tên Tam Bảo thái giám, đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên nhà đại kiến trúc Nguyễn An - A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay. Tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình đáng ngưỡng mộ mà thị dân Bắc Kinh cũng nên uống nước nhớ nguồn, kỷ niệm chớ quên."
Sách Thủy đông nhật ký của Diệp Thịnh đời Minh có chép: "Nguyễn An, cũng gọi là A Lưu, người Giao Chỉ, thanh khiết, giỏi tính toán, có biệt tài về kiến trúc. Trong các công trình xây dựng thành trì Bắc Kinh và chín cửa thành lầu, hai cung, ba điện, năm phủ, sáu bộ ở Bắc Kinh và nạo vét sông Trạch Chư ở thôn Dương, đều có nhiều công lao to lớn. Các nhân viên thuộc hạ của Nguyễn An ở Bộ Công chẳng qua chỉ là những người thừa hành phận sự, thực hiện những công trình do Nguyễn An quy hoạch, thiết kế ra đó thôi".

                              Hà Nội ngày 8.01.2020
                                    LÊ THANH LONG