Thứ Ba, 5 tháng 11, 2019

GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH MỚI IN "Truyện Kiều chuyển sang văn xuôi"


GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH MỚI IN
“Truyện Kiều chuyển sang văn xuôi”

Ai đọc Truyện Kiều cũng phải công nhận là Truyện Kiều hay ở văn chương, ở việc phân tích tâm lý, miêu tả nhân vật như thật, y hệt như trong đời sống thực. Và cái hay, cái kỳ lạ của văn chương đó chính là lời thơ lục bát. Thơ Kiều là loại thơ ước lệ, tượng trưng, tu từ… nên càng đọc, càng ngấm, càng thấy hay. Nhưng chính điều kỳ bí văn chương này lại làm cho người đọc khó hiểu và gây ra nhiều cuộc tranh luận, phân tích về những điều kỳ bí đó.
Tác giả chuyển cuốn Truyện Kiều sang văn xuôi theo cách giữ nguyên lời thơ của Nguyễn Du, chỉ thêm vào những từ ngữ, những chỗ, những đoạn, mà ông đã lược bớt cho phù hợp với luật thơ lục bát. Tác giả cố gắng thêm câu chữ vào cho đúng theo nguyên ý Nguyễn Du và giữ nguyên văn cảnh, đồng thời giải thích những từ cổ, từ Hán ngữ sang tiếng Việt hiện đại, để bạn đọc phổ thông hiểu được Truyện Kiều một cách dễ dàng.



   

 



Đọc cuốn sách “Truyện Kiều chuyển sang văn xuôi”, chúng ta sẽ hiểu rõ tường tận chính xác trực tiếp ý nghĩa và nội dung tác phẩm do chính Nguyễn Du xây dựng nên, do Truyện Kiều mang lại. Nguyễn Du viết Truyện Kiều theo ý riêng của mình, theo cách của ông, chứ không dịch Kim Vân Kiều truyện. Nó khác biệt rất lớn so với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân.
Mặc dù Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện, giữ nguyện tuyến nhân vật chính, nhưng thay đổi tính cách nhân vật, hình dáng nhân vật để thể hiện tính cách mới của nhân vật, thay đổi trình tự câu chuyện, nội dung câu chuyện, tiết tấu câu chuyện nhanh, hấp dẫn, hết sự kiện nọ, chuyển ngay sang sự kiện kia, không rườm rà, dài dòng. Đặc biệt Nguyễn Du thêm vào phần tả cảnh, cảnh gắn với tình rất tuyệt vời, rất ấn tượng, mà trong Kim Vân Kiều truyện không hề có.
Cốt truyện được sắp xếp lại, ngắn gọn hơn, chọn lọc hơn, sự kiện nối tiếp nhau. Các tình tiết đảo lộn trước sau.
Nguyễn Du chỉ lấy khoảng 1/4 sự kiện trong Kim Vân Kiều Truyện để viết ra 1.313 câu thơ, còn lại 1.941 câu thơ là do ông sáng tác ra, trong tổng số 3254 câu thơ lục bát trong Truyện Kiều.
Để dễ theo dõi khi đọc, chúng tôi chia cuốn sách ra làm 35 đoạn, đặt đầu đề phù hợp với nội dung câu chuyện.
Diễn Truyện Kiều sang văn xuôi trên cơ sở dẫn giải, giải thích và đôi khi bình giải chi tiết từng câu thơ, kể cả những từ khó, những câu thơ khó, trên quan điểm mới, hiện đại, mong muốn độc giả ngày nay đọc hiểu Truyện Kiều một cách dễ dàng hơn và hiểu sâu sắc hơn.
Cuốn sách được viết một cách nhẹ nhàng, dễ đọc. Bằng cách chuyển một đoạn thơ thành một đoạn văn dễ hiểu. Những kiến thức mới nhất đã được cập nhật kịp thời.
Để không làm mất đi những tinh hoa của Truyện Kiều, giữ được tinh túy và bản sắc của Nguyễn Du, chúng tôi giữ lại gần như nguyên vẹn lời thơ của Nguyễn Du, chỉ thêm vào những câu chữ Nguyễn Du lược bớt do hạn chế về vần điệu và giới hạn số chữ của thơ lục bát, đồng thời chúng tôi sắp xếp lại theo cách hành văn thông thường của văn xuôi.
Lúc nào rảnh rỗi hoặc muốn thư giãn các bạn mở sách ra đọc và như Nguyễn Du đã nói “mua vui cũng được một vài trống canh”.
Thơ Kiều Nguyễn Du đầy bí ẩn và mênh mông, không phải ai cũng có thể thấu hiểu căn kẽ Truyện Kiều, mặc dù có thể đã đọc đi đọc lại nhiều lần, đó chính là sự kỳ lạ, bí hiểm của Truyện Kiều. Truyện Kiều càng đọc kỹ, càng thấm, càng thấy hay.
Trong Truyện Kiều các nhân vật gắn liền với con người và tâm lý trong xã hội… giống thật đến nỗi người Việt Nam tưởng đây là câu chuyện xẩy ra ở Việt Nam, ngược lại người Trung Quốc lại nghĩ đó là câu chuyện ở đất nước Trung Hoa.
Đọc cuốn sách này bạn đọc sẽ hiểu được từng chữ, từng câu thơ trong Truyện Kiều.
Tác giả viết cuốn sách này như một món quà chân thành, một món ăn tinh thần mới mẻ, dành cho lớp trẻ và những người yêu mến Truyện Kiều đọc và tiếp nhận Truyện Kiều một cách dễ dàng. Cũng là một cách để tri ân Đại thi hào Nguyễn Du, đã để lại cho đời một thiên tuyệt bút, đã vang vọng ra năm châu bốn biển, làm rạng rỡ, vẻ vang cho nền văn chương, cho tiếng Việt nước nhà.
Hy vọng cuốn sách sẽ thỏa mãn được mong muốn của độc giả, bạn sẽ có nhiều hứng thú khi đọc Truyện Kiều chuyển sang văn xuôi. Cuốn sách sẽ giúp ích rất nhiều cho việc tìm hiểu Truyện Kiều.
Cuốn sách được chia thành 35 đoạn, sau đây chúng tôi xin trích đăng đoạn đầu trong cuốn sách
I
Gia đình Vương Viên ngoại
tài sắc Thúy Vân, Thúy Kiều

                          Làn thu thủy, nét xuân sơn
                     Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
                     Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
                     Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.

Ngẫm trong cõi người chúng ta đang sống, đời người sống được trăm năm, “trăm năm trong cõi người ta”, tài và mệnh rõ khéo là hay ghen ghét nhau, tài năng và số mệnh, số phận của mỗi con người không phải lúc nào cũng đi đôi song hành với nhau, tài và mệnh hay đố kỵ nhau một cách lạ lùng, “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”.
Không còn xa lạ gì với cái lẽ thường tình ở đời là được mặt này hơn thì kém mặt kia, “lạ gì bỉ sắc tư phong”, hơn về tài sắc thì lại kém về mệnh số, được mặt này thì mất mặt kia, người có tài không phải lúc nào cũng thành công. Đó là quy luật bù trừ của tạo hóa. Con tạo, tạo hóa xưa nay vốn quen với việc đánh ghen với khách má hồng”, người đàn bà đẹp “trời xanh quen với má hồng đánh ghen”. Tạo hóa tạo ra thế giới muôn loài, tạo ra người đàn bà đẹp sao phải đánh ghen, mà chỉ đánh ghen với khách má hồng, chứ không phải đánh ghen với đàn bà nói chung?
Trời xanh, con tạo, tạo hóa… cái thế lực vô hình đó là gì, là ai, mà lại hay đánh ghen với khách má hồng. Ông xanh, con tạo… là cách nói tượng trưng, ước lệ, thực tế ra đây là một thế lực xã hội, đó là thói đời thường hay ghen tỵ, đánh ghen lẫn nhau, nhất là với những người đàn bà tài sắc và vì đẹp nên được nhiều người đàn ông để ý, yêu thương, tranh giành, nên hay gặp chuyện rắc rối, long đong, gian truân. “Đã cho lấy chữ hồng nhan/ Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân”/ Đã đầy vào kiếp phong trần/ Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi”.
Ta đọc câu thơ sau đây sẽ hiểu từ “con tạo” mà Nguyễn Du muốn nói đến là gì: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân/ Để xem con tạo xoay vần đến đâu”. “Con tạo” ở đây nghĩa là “sự đời”. Cũng liều nhắm mắt đưa chân, để xem sự đời nó xoay vần đến đâu?
Trong đời một con người trải qua những sự biến đổi của thời cuộc, bãi bể biến thành nương dâu, “trải qua một cuộc bể dâu”. Nhìn thấy những sự đảo lộn, đau thương của đời người trong xã hội, mà đau đớn lòng, “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Nguyễn Du mở pho sách thơm, pho sách hay, đọc từng trang, nghiền ngẫm từng trang trước ngọn đèn, câu chuyện tình yêu nam nữ, có màu xanh, được truyền lại trong sử sách, “cảo thơm lần giở trước đèn”, “phong tình có lục còn truyền sử xanh”. Hai câu thơ này Nguyễn Du muốn ám chỉ ông viết cuốn truyện thơ “Đoạn trường tân thanh” tức Truyện Kiều là dựa theo câu chuyện tình nam nữ, đã được sử sách chép lạị.
Vào năm Gia Tĩnh triều Minh (niên hiệu Minh Thế Tông, 1522 - 1566) bên Trung Quốc bốn phương yên bình, phẳng lặng, hai kinh đô là Bắc Kinh và Nam Kinh đất nước vững vàng, “rằng năm Gia Tĩnh triều Minh”, “bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Có một gia đình Vương viên ngoại, “có nhà viên ngoại họ Vương”, của cải trong nhà, cũng vào loại bậc trung, “gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”, sinh hạ được ba người con. Đầu lòng là hai cô con gái đẹp, “đầu lòng hai ả Tố Nga”, “thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân”, một con trai út, tên chữ là Vương Quan theo nghiệp nho gia, “vương Quan là chữ nối dòng nho gia”.
Cô chị Thúy Kiều tính cách như cây mai, cô em Thúy Vân đức tính trong sạch như tuyết trắng, “mai cốt cách, tuyết tinh thần”, “một người một vẻ mười phân vẹn mười”.
Cô em Thúy Vân xem ra trang trọng khác người, “Vân xem trang trọng khác vời”, đôi gò bồng đảo đầy đặn, đẹp đẽ, đường nét cơ thể nở nang, khỏe mạnh, “khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”, cười tươi như hoa, nói năng đoan trang, “hoa cười ngọc thốt đoan trang”. Mái tóc mềm mại, óng mượt như mây, mà “mây” còn “thua nước tóc” , da trắng như tuyết, mà tuyết vẫn còn phải nhường nhịn chịu thua màu da của Thúy Vân.
“Kiều càng sắc sảo, mặn mà” có duyên, so về mặt tài sắc còn hơn cả cô Thúy Vân, “so bề tài sắc lại là phần hơn”. Đôi mắt nàng Kiều mơ màng trong như nước mùa thu, nét lông mày xanh như núi mùa xuân, “làn thu thủy nét xuân sơn”, hoa đẹp như vậy, cũng phải ghen, vì thua sắc thắm của đôi môi và đôi má hồng, liễu cũng phải ghen và hờn giận vì thua kém về màu xanh, “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”.
Sắc đẹp của Thúy Kiều liếc nhìn một cái có thể làm cho mất nước, liếc nhìn hai cái có thể làm nghiêng đổ cả thành trì, “một hai nghiêng nước nghiêng thành”, sắc đẹp nhiều lắm trên đời này cũng chỉ có một, còn tài họa ra có được hai người, “sắc đành đòi một, tài đành họa hai”.
Về trí thông minh vốn tính trời phú cho sẵn có, “thông minh vốn sẵn tính trời”, vừa biết làm thơ, vừa biết vẽ tranh, ngoài ra còn biết ca hát và ngâm thơ đủ vẻ, “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”.
Về âm nhạc thì âm luật lầu lầu ngũ cung: cung, thương, giốc, chùy, vũ, “cung thương lầu bậc ngũ âm”, có nghề riêng gảy đàn hồ cầm, hơn hẳn mọi người, “nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”, trương là cây đàn.
Hồ cầm là đàn nguyệt, còn gọi là đàn Nguyễn do người họ Nguyễn bên Trung Quốc làm ra.
Thúy Kiều còn tự soạn ra khúc nhạc riêng, bài đàn riêng để đánh đàn, “khúc nhà tay lựa nên chương”, đó là một thiên “Bạc mệnh”, tấu lên nghe não lòng người, “một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”.
Thúy Kiều có đời sống phong lưu, thanh nhàn, sang trọng vào bực nhất trong đám khách hồng quần, “phong lưu rất mực hồng quần”, tuổi xuân xấp xỉ tới thời kỳ cài trâm, “xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”.
Phụ nữ khá giả xưa bên Trung Quốc thường mặc quần màu đỏ. Thiếu nữ Trung Quốc xưa 15 tuổi là đến thời kỳ được cài trâm, dấu hiệu đến tuổi lấy chồng.
Tuy vậy Thúy Kiều vẫn “êm đềm trướng rủ màn che”. “tường đông ong bướm đi về mặc ai”, nàng cấm cung không giao lưu với con trai, tường đông là tường nhà phía đông, phương Đông chỉ nam giới, Thúy Kiều chưa bận tâm tới điều đó.
Sắc đẹp của Thúy Kiều là số một, còn tài thơ văn, nhạc, họa may ra còn có người hơn, một cô gái còn trinh trắng.
Thúy Kiều là một cô gái thuộc tầng lớp trung lưu, có văn hóa, cao sang, được giáo dục đến nơi đến chốn.


THỜI GIAN TRONG TRUYỆN KIỀU

                                                    LÊ THANH LONG

Trong Truyện Kiều nhiều lần Nguyễn Du nói đến thời gian và khoảng thời gian chỉ mốc thời gian xẩy ra các sự kiện, vậy thời gian và khoảng thời gian đó thể hiện ra như thế nào và chính xác đến mức nào?
1. Thời gian Kim Trọng về hộ tang chú
Nguyễn Du viết câu thơ rất hay mà ai cũng thích:
2747. Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông
Nhiều người đọc câu thơ này nghĩ rằng sau một năm Kim Trọng mới trở lại, vì câu thơ có chữ “năm ngoái”. Nhưng thực ra chữ “năm ngoái” ở đây không phải để chỉ thời gian cái năm ngoái lúc hai người gặp nhau khi hoa đào đang nở. Mà “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” là nói về bông hoa đào Thúy Kiều, lúc gió đông về, tức gió xuân về, lúc đó đang nở đẹp rực rỡ, mà bây giờ không thấy bông hoa đào ấy đâu nữa.
Khi Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về hộ tang chú, Kim Trọng nói với Thúy Kiều:
543. Ngoài nghìn dặm chốc ba đông,
Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy!
Ông chú không có con trai, Kim Trọng là cháu thừa tự nên phải về Liêu Dương hộ tang chú ba năm. Ở ngoài xa hàng nghìn dặm, xa nhau ba năm, không bỗng chốc mà có thể trở lại gặp nhau được, mối sầu chia ly này, gỡ cho xong còn lâu lắm đấy. Nhưng thực tế Kim Trọng về hộ tang chú, chỉ sau 6 tháng đã quay trở lại Bắc Kinh:
2741. Từ ngày muôn dặm phù tang,
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
2. Kim Trọng về chịu tang chú và trở lại Bắc Kinh là vào thời điểm nào?
Kim Trọng và Thúy Kiều gặp nhau trong Hội Đạp thanh vào đầu tháng ba:
39.Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Ánh sáng mùa xuân có chín mươi ngày mà đã ngoài sáu mươi ngày là đã bước sang đầu tháng ba:
43. Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ ngày là đạp thanh
Gặp Thúy Kiều ở Hội Đạp thanh về, Kim Trọng thuê trọ ở nhà Ngô Việt thương gia được hai tháng 287. Nhẫn từ quán khách lân la/ Tuần trăng thấm thoát nay đà thêm hai, thì gặp lại Thúy Kiều, hai người hứa hẹn trăm năm và trao nhau của tin, lúc này là vào cuối xuân. Đến đầu hạ Thúy Kiều và Kim Trọng gặp nhau ở nhà trọ của Kim Trọng:
369. Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Nhân dịp cả nhà đi dự sinh nhật bên nhà ngoại, Thúy Kiều đem theo đồ ăn sang gặp Kim Trọng:
377. Thời trân thức thức sẵn bày,
Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường
Hai người cắt tóc ăn thề:
447. Tiên thề cùng thảo một chương,
Tóc mây một món dao vàng chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Đôi trai gái gặp nhau được đúng một ngày thì Kim Trọng chia tay Thúy Kiều về hộ tang chú, đó là vào đầu hạ. Sáu tháng sau Kim Trọng trở lại nhà ở Bắc Kinh, đến nhà Thúy Kiều, đó là vào đầu đông. Lúc này nhà Thúy Kiều đã là nhà hoang:
2747. Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày.
Như vậy Kim Trọng trở lại là vào đầu đông. Đầu đông hoa đào chưa thể nở được.
3. Từ Hải chia tay thúy Kiều sau bao lâu thì quay về cưới Thúy Kiều?
Từ Hải sống với Thúy Kiều được nửa năm thì “trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương” nên chia tay Thúy Kiều đi tìm sự nghiệp:
2213. Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mông,
Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng giong.
Thúy Kiều muốn đi theo, Từ Hải nói với Thúy Kiều:
2227. Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì.
Vậy có phải một năm sau Từ Hải đã quay về cưới Thúy Kiều?
Theo ý chúng tôi Từ Hải nói câu này chỉ là để động viên Thúy Kiều ở lại, chứ Từ Hải không thể dự đoán được chỉ một năm sau đã hoàn thành sự nghiệp thu phục non sông. Vậy Từ Hải đi bao lâu thì quay lại cưới Thúy Kiều. Nguyễn Du chỉ nói đến nỗi nhớ của Thúy Kiều hướng về phương trời xa xôi đăm đăm, nhớ đến “mòn con mắt” cái nơi đôi cánh chim hồng hạc đang bay bổng tuyệt vời ở phương trời sự nghiệp:
2247. Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.
Thúy Kiều trong khi nghĩ về bố mẹ có nói một câu:
2239. Chốc đà mười mấy năm trời,
Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
Câu thơ này cũng chỉ cho ta biết chung chung là Thúy Kiều đi khỏi nhà đã được hơn chục năm.
Thúy Kiều nhìn thấy Từ Hải lúc trở về cưới Thúy Kiều, nhân xét:
2273. Rỡ mình lạ vẻ cân đại,
Hãy còn hàm én mày ngài như xưa.
Dựa vào những câu thơ nêu ra ở trên và sự nghiệp Từ Hải đạt được, ta có thể dự đoán là Từ Hải đi rồi quay lại cũng khá lâu chứ chắc không phải một năm.
Nguyễn Du nói về sự nghiệp của Từ Hải:
2449. Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Trước mặt Hồ Tôn Hiến Thúy Kiều ca ngợi sự nghiệp của Từ Hải:
2555. Năm năm trời bể ngang tàng,
Dấn mình đi bỏ chiến trường như không.
Từ khi đi gây dựng sự nghiệp đến khi chiếm được 5 huyện thành là 5 năm.
Quãng thời gian sau khi Từ Hải giúp Thúy Kiều trả được mối thù riêng đến khi bị Hồ Tôn Hiến lừa và bị chết đứng, Nguyễn Du chỉ mô tả:
2439. Thừa cơ trúc chẻ ngói tan,
Binh uy từ ấy sấm ran trong ngoài.
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi phen gió quét mưa sa,
Huyện Thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
Từ những mô tả trên, ta không thể biết được Từ Hải đã đi bao lâu rồi quay về.
Thời gian Kiều lưu lạc là 15 năm. Từ Hải “năm năm hùng cứ một phương hải tần”. Như vậy khi Từ Hải chia tay Kiều ra đi lập nghiệp thì Kiều đã lưu lạc được trên 10 năm. Trong lời tâm sự nhớ bố mẹ Thúy Kiều nói “chốc đà mười mấy năm trời, còn ra khi đã da mồi tóc sương”. Như vậy lúc này Thúy Kiều đã lưu lạc được mười mấy năm trời rồi, suy ra Từ Hải đã ra đi được mấy năm chứ không phải 1 năm.
Trong Kim Vân Kiều truyện có nói Từ Hải tức Từ Minh Sơn đi ba năm:
“Lại nói, Thúy Kiều thấy Từ Minh Sơn đi luôn ba năm tuyệt nhiên không có tin tức gì cả. Một ngày kia bỗng có tin quân giặc kéo đến rất đông, nhân dân trong vùng đều chạy trốn hết. Bọn người nhà đều giục Thúy Kiều nên rời chỗ ở…”
“Cách ít lâu, bỗng có toán quân đông ước vài nghìn và hơn mười vị tướng, thình lình kéo đến, vây quanh ngôi nhà, rồi hô lớn:
- Vương phu nhân có ở đây không? Chúng tôi phụng mệnh Từ Minh Sơn thiên tuế đến đón phu nhân!”
4. Thúy Kiều bán mình vào lúc nào?
Thúy kiều bán mình cùng thời gian Kim Trọng về hộ tang chú và chỉ sau vài ngày hai người gặp nhau ở nhà trọ của Kim Trọng.
Thúy Kiều sang nhà Kim Trọng lúc đầu hè:
369. Lần lần ngày gió đêm trăng,
Thưa hồng rậm lục đã chừng xuân qua.
Ngay sáng hôm sau Kim Trọng nhận được tin phải về hộ tang chú, vài ngày sau Kim Trọng lên đường về Liêu Dương:
565. Buồn trông phong cảnh quê người,
Đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa.
Ngay sau đó gia đình Vương Ông vướng vào lao lý và Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha:
605. Quyết tình nàng mới hạ tình:
“Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha”
Mã Giám Sinh mua và cưới Thúy Kiều vào đầu hạ. Trên đường Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đi đã là mùa thu:
911. Nàng thì dặm khách xa xăm,
Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây.
Vi lô san sát hơi may,
Một trời thu để riêng ai một người.
917. Rừng thu từng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn.
Mã Giám Sinh đưa Thúy Kiều đến lầu xanh của Tú Bà mất một tháng:
919. Những là lạ nước lạ non,
Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi
Lúc này có lẽ đã là vào giữa thu. Như vậy từ lúc Thúy Kiều bán mình cho Mã Giám Sinh đến khi đến lầu xanh của Tú Bà là khoảng 4 - 5 tháng; từ đầu hạ đến khoảng giữa thu.
Sau đó Tú Bà đưa Kiều đến lầu Ngưng Bích. Thúy Kiều làm thơ nói về “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”. Sở Khanh nghe thấy và họa vần. Lúc này vẫn là mùa thu:
1073. Song thu đã khép cánh ngoài,
Tai còn đồng vọng mấy lời sắt đanh
Sở Khanh đưa Kiều đi trốn vẫn trong mùa thu:
1119. Đêm thu khắc lậu canh tàn,
Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương.
5. Thúc Sinh chuộc và cưới Thúy Kiều vào lúc nào?
Thúc Sinh gặp Thúy Kiều vào đầu xuân và sau đó chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh:
1283. Hải đường mơn mởn cành tơ,
Ngày xuân càng gió càng mưa càng nồng.
Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng,
Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng!
Đôi trai gái sống với nhau được nửa năm từ đầu xuân cho đến đầu thu:
1385. Nửa năm hơi tiếng vừa quen,
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
Giậu thu vừa nảy giò sương,
Gối yên đã thấy xuân đường tới nơi.
Thúc Ông trở lại nổi giân và đưa đơn kiện lên quan phủ. Quan phủ giảng hòa và còn làm lễ cưới cho đôi trai gái Thúc Sinh - Thúy Kiều. Như vậy là Thúc Sinh cưới Thúy Kiều vào đầu thu. Hai người sống với nhau được một năm từ đầu thu năm nay sang đầu thu năm sau thì Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm vợ cả Hoạn Thư.  
6. Thúc Sinh về nhà thăm Hoạn Thư hai lần vào lúc nào?
Thúc sinh và Thúy Kiều sống với nhau từ đầu thu, qua đông, qua xuân sang đến hạ:
1473. Mảng vui rượu sớm cờ trưa,
Đào đà phai thắm sen vừa nẩy xanh
Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thú thật với vợ cả Hoạn Thư là mình lấy vợ lẽ. Đến lúc này hai người đã cưới nhau được một năm:
1487. Mà ta suốt một năm ròng
Thế nào cũng chẳng giấu xong được nào.
Thúy Kiều tiễn Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư là vào mùa thu:
1519. Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Thúc Sinh ở nhà được một năm mà không dám nói ra với Hoạn Thư việc mình lấy vợ lẽ Thúy Kiều. Và lúc này trời đã lại sang thu:
1593. Thú quê thuần vược bén mùi,
Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô
Lá ngô đồng đã rụng một vài chiếc lá vàng xuống cái giếng nước quý là trời đã sang thu. Hoạn Thư biết ý Thúc Sinh nhớ Thúy Kiều muốn trở về nên nhắn tin qua là đã một năm rồi cũng phải về mà chăm sóc cha già:
1599. Cách năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn
Về đến nhà ở Lâm Tri Thúc Sinh được tin Thúy Kiều đã chết. Buồn quá chỉ biết lấy câu vận mệnh mà khuây dần nỗi nhớ thương. Các mùa nối tiếp nhau trôi đi nhanh chóng:
1795. Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Một năm sau, nhớ quê hương chàng Thúc Sinh lại tìm đường thăm quê:
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê
Lúc này là vào mùa thu, nên Hoạn Thư nói câu:
1833. Khen rằng: “Hiếu tử đã nên,
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu”.
Như vậy tổng số thời gian từ khi Thúc Sinh gặp Thúy Kiều cho đến khi gặp lại Thúy Kiều ở nhà Hoạn Thư là 3 năm 6 tháng.
7. Thúy Kiều bị bắt khi nào và ở nhà Hoạn Thư bao lâu?
Ngay khi Thúc Sinh từ Vô Tích trở về Lâm Tri vào đầu thu, thì Hoạn Thư cũng về bên mẹ là Hoạn Bà trình bày kế hoạch đi bắt Thúy Kiều bằng đường Thủy:
1613. Lâm Tri đường bộ tháng chày
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần.
Từ Vô Tích về Lâm Tri thúc Sinh đi bằng đường bộ phải mất cả tháng, đi bằng đường biển thì gần hơn, mất ít thời gian hơn. Hoạn Thư sửa sang thuyền buồm cử Khuyển Ưng đi bắt Thúy Kiều về:
1707. Khuyển Ưng đã đắt mưu gian,
Vực nàng đưa xuống để an dưới thuyền.
Như vậy Thúy Kiều bị bắt về nhà Hoạn Bà là vào đầu thu, làm con hầu, đổi tên thành Hoa nô. Sau đó Kiều được đưa sang nhà Hoạn Thư làm con hầu.
Bốn mùa cứ nối tiếp qua đi, thời gian trôi đi nhanh chóng:
Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Thúc Sinh:
1799. Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê
Thúc Sinh gặp Thúy Kiều ở nhà Hoạn Thư và màn “ghen Hoạn Thư” nổi tiếng xẩy ra ở đây, đó là vào mùa thu nên có câu:
1834. Tẩy trần mượn chén giải phiên đêm thu
Đến lúc này Thúy Kiều đã ở nhà Hoạn Thư được một năm.
Và ngay sau đó Thúy Kiều xin được xuất gia và Hoạn Thư cho ở Quan Âm Các “giữ chùa tụng kinh”. Thúy Kiều đã ở đây được vài tháng:
1933. Sồng nâu từ trở màu thiền,
Sân thu trăng đã vài phen đứng đầu.
Nhân lúc Hoạn Thư về nhà mẹ đẻ, Thúc Sinh lẻn đến Quan Âm Các gặp Thúy Kiều, Hoạn Thư bắt được quả tang và khi Thúy Kiều biết Hoạn Thư đã nghe hết mọi chuyện hai người nói với nhau thì kinh sợ và quyết định bỏ trốn.
Thúy Kiều trốn đến ở Chiêu Ẩn Am được khoảng ba tháng từ cuối thu cho đến đầu xuân:
2061. Cửa thiền vừa tiết cuối xuân,
Bóng hoa đầy đất vẻ ngân ngang trời
Thì bị lộ tung tích phải thú thật với sư Giác Duyên mọi chuyện. Giác Duyên sợ bị nhà Hoạn Thư biết thì nguy hiểm, nên thương hại gửi Thúy Kiều sang trốn ở nhà Bạc Bà. Như vậy Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am từ cuối thu đến đầu xuân được trên ba tháng.
Bạc Bà dọa và lừa buộc Thúy Kiều lấy Bạc sinh, rồi lừa đưa đến Châu Thai bán cho nhà hàng viện, Thúy Kiều lại rơi vào lầu xanh lần thứ hai.
Ở Châu Thai Thúy Kiều gặp Từ Hải.
Như vậy thời gian Thúy Kiều ở lầu xanh của Tú Bà và ở kĩ viện Châu Thai bao lâu thì cả Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân đều không nói.
Từ khi Thúy Kiều bán mình theo Mã Giám Sinh cho đến khi gieo mình xuống sông Tiền Đường là 15 năm:
2643. Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi!
Thúy Kiều than trong mười lăm năm đã có không biết bao nhiêu lần bị oan khổ lưu ly
Tóm tắt lại thời gian Thúy Kiều lưu lạc trong 15 năm ấy ta biết được:
1. Thời gian từ khi bán mình lấy Mã Giám Sinh đến khi về đến lầu xanh của Tứ Bà và bị Sở Khanh lừa là khoảng 6 tháng.
2. Thời gian ở lầu xanh của Tú Bà: Không biết bao lâu.
3. Thời gian Thúc Sinh chuộc Kiều ra rồi cưới Kiều, hai người sống với nhau được 1 năm  
     6 tháng.
4. Thời gian Kiều sống một mình ở Lâm Tri chờ Thúc Sinh về quê là 1 năm.
5. Thời gian Kiều ở nhà Hoạn Bà và Hoạn Thư là 1 năm.
6. Thời gian Kiều tu ở Quan Âm Các là vài tháng (vẫn trong mùa thu).
7. Thời gian Thúy Kiều ở Chiêu Ẩn Am là trên 3 tháng.
8. Thời gian Thúy Kiều ở kĩ viện Châu Thai: Không biết bao lâu.
9. Thời gian Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi kĩ viện Châu Thai và sống với nhau là 6 tháng.
10. Thời gian Kiều chờ Từ Hải đi tìm sự nghiệp:
       Trong Truyện Kiều Từ Hải nói là 1 năm.
       Trong Kim Vân Kiều truyện là 3 năm.
11. Tổng số thời gian Kiều chờ Từ Hải và sống với Từ Hải là 5 năm 6 tháng.
Tổng số thời gian Kiều lưu lạc ta biết được như đã liệt kê ra ở trên là 10 năm.
Còn trống hai khoảng thời gian Kiều ở lầu xanh của Tú Bà và ở kĩ viện Châu Thai. Thời gian lưu lạc của Thúy Kiều là 15 năm, vậy suy ra thời gian Kiều 2 lần ở lầu xanh là 5 năm.
Qua đây ta thấy Nguyễn Du dùng hình ảnh cây cỏ, hoa lá, chim muông, khí hậu… các mùa để chỉ thời gian và khoảng thời gian xẩy ra các sự kiện, chúng gắn liền với tâm tư tình cảm của Thúy Kiều và các nhân vật. Nguyễn Du có chủ ý mô tả rất chính xác các mùa và các mốc thời gian. Cách mô tả thời gian bằng hình ảnh các mùa làm cho người đọc hứng thú và không bị nhàm chán khi chỉ nói về thời gian một cách đơn thuần. Lấy cảnh bốn mùa để mô tả thời gian sự việc là đặc trưng riêng của thơ Kiều Nguyễn Du.

                                           Hà Nội ngày 2.12.2019

Thứ Sáu, 29 tháng 6, 2018

HÀI KỊCH: Thị Mầu thời hiện đại 4.0

HÀI KỊCH:
Thị Màu thời hiện đại - 
                     bốn chấm 0 (4.0)
(Cuộc chuyển giao sau 
                              một thế kỷ)

                      Tác giả: Lê Thanh Long

Nhân vật

1.Xã trưởng
2.Thị Màu 1
3.Thị Màu 2
4.Mõ
5.Nhân viên văn phòng (Nhân viên VP)





















Xã trưởng trang phục tùy ý lựa chọn cho phù hợp với cách diễn. Thị Màu trang phục nửa cũ nửa mới, tùy ý.






Xã Trưởng 1           Thị Màu 1                              Mõ 1

Xã Trưởng: (Chống ba toong đi cà nhắc ra sân khấu, mặt nhăn nhó, đau đớn. Ngồi xuống ôm chân) Ái chà chà! Ái chà chà! Chuột nó rút gân cơ mình, đau quá, đau quá! Gân cơ mình rệu rã quá rồi. (Nắn nắn bàn chân co cứng, tay cầm bàn chân kéo ngược lại, mặt tươi tỉnh dần).
Có thế chứ! Giờ cái chân chính lại là của mình rồi.
(Đứng dậy đi thập thễnh, rồi đi lại bình thường).
Bây giờ đã 8h02’ rồi mà chưa có mống nào đến nhỉ.
Thị Màu: Vừa đi ra vừa múa hai tay, đánh mông, mặt hơn hớn ra chiều hồ hởi lắm
Đây! Đây! Con đây. Con mới chậm có 1 phút 15 giây mà cụ đã phê… rồi.
Xã Trưởng: Thời hiện đại 4.0 thời gian còn quý hơn cả vàng đấy!
Thị Màu: Dạ. Con biết. Con biết! Hôm qua Company (/'kʌmpəni/) Tờ lờ Mờ (TLM) nhờ con diễn sâu (show (/ʃou/) quảng cáo cho có 20 giây mà họ cát xê cho con 15 triệu đấy.
Xã Trưởng: Dạo này mày giỏi kiếm tiền nhể!  
Thị Màu: Mải nói chuyện quên phéng mất cả lễ nghĩa: Con chào ông xã ạ.
Xã Trưởng: Mày chào tao là gì nhỉ?
Thị Màu: Ông xã ạ.
Xã Trưởng: Mày chào thế hóa ra tao là chồng mày à?
Thị Màu: Vậy con chào cụ xã ạ.
Xã Trưởng: Thế tao già lắm rồi sao? Này! Tao còn có khả năng đẻ ra mấy lứa như mày đấy!
Thị Màu: Vậy con chào ông… à cụ… à (gãi đầu vẻ khó nói) bác Xã ạ!
Xã Trưởng: Thời bốn chấm 0 hiện đại rồi. Mày phải chào tao là Ngài Xã Trưởng hay Mistơ (Mister) Xã Trưởng.
Thị Màu: Con chào ngài Mister Xã Trưởng ạ…ạ…(dài giọng).
Xã Trưởng: À… , mà mày tên là gì ấy nhỉ? Đầu óc tao dạo này hơi có “vấn đề”, cơ quan đông người quá bộ nhớ của tao bị “quá tải”.
Thị Màu (nhanh nhẩu): Dạ. Tên con là “Thi Ká lơ” ạ.
Xã Trưởng: Mày nói tên là… gì… gì ấy nhỉ? (lẩm bẩm)… Thi Ká lơ, cá lờ (vỗ đùi đánh đét). Tao hiểu rồi, Ká lơ, Cá lờ là lờ bắt cá, “Thi Cá lờ” là Thi bắt cá bằng lờ. Tên lạ quá, hay quá, thâm thúy quá! Con này thế mà sâu sắc đáo để! Nhưng người gì mà lại có cái tên là Thi Bắt Cá Bằng Lờ nhỉ!
Thị Màu: Dạ. Không phải thế đâu ạ. Tên con là Thi Ká lơ (colour /'kʌlə/ - Ká lơ).
Ká lơ nghĩa là Màu. Thi Ká lơ nghĩa là Thị Màu đấy ạ!
Xã Trưởng: Mày cứ nói tiếng Anh, tiếng Tàu lằng nhằng, tao chả hiểu gì sất. Cứ nói toẹt nó ra là Thị Màu lẳng lơ cho dễ hiểu con ạ.
Thị Màu: Con đâu có lẳng lơ. Con chỉ thích chơi… cho vui thôi ạ.
Hát: Tùy ý chọn bài hát.
Xã Trưởng: Thôi hát thế đủ rồi đấy. Này cái con Thi Kà lờ, à Thị Màu. Mày gọi cho tao cái thằng Mõ vào đây. Mấy hôm nay không biết nó đi mò mẫm tôm, cá ở đâu, mà chả thấy cái mặt nó đâu sất.
Thị Màu: Anh Mõ bảo, anh ấy về quê ạ.
Xã Trưởng: Xạo. Cái thằng Mõ làm gì biết quê nó ở đâu. Mẹ nó đẻ rơi đẻ vãi. Hay nó lại gâu… gâu… (go /gou/ - gâu) ra quán kiếm vài chén quốc lủi etanol rồi cũng nên. Không có chó bắt mèo ăn cứt vậy. Có việc gấp, mày làm mõ cho tao.
Thị Màu: Con làm Mõ à?. Làm trái việc thế Mister Xã Trưởng thưởng cho con cái gì ạ?
Xã Trưởng: Mày thích cái gì tao thưởng cho tất tần tật.
Thị Màu: Con sợ, cái con thích cụ lại không có ạ.
Xã Trưởng: Ai bảo mày tao không có, chỉ có cái tao có thích mai séo phơ (myself - /mai'self/ tự mình cho hay không thôi.
Này! Này! Mày lại gần đây, con bé Màu.
Thị Màu: Con lại gần để cụ xơi tái con à?
Xã Trưởng: Cái con này! Của mày có mà hầm cũng chẳng ăn được nữa là tái. Mày đi thông báo cho tao cái tin - Niu xờ (News /nju:z/ ) mới này nhé.
Thị Màu: Dạ. Nhưng con chỉ quen hành động thôi! Chứ cái đầu “bã đậu” của con không biết nó có nhớ được không ạ.
Xã Trưởng: Mày cứ nói theo tao là được. Chuẩn bị… xờ tát (start /stɑ:t/) bắt đầu nói: Chiềng làng, chiềng nước, rước đuốc đi nghe, trên đe dưới búa, Thượng hạ Tây Đông, trên sông dưới biển, kẻ tiến người lùi, kẻ ngược người xuôi ra nghe cho rõ:. Thiên hạ nâu lay hay bị kẻ gian động phòng.
Thị Màu: Động phòng theo nghĩa nào hả cụ?
Xã Trưởng: Con này chỉ nghĩ vớ va vớ vẩn. Động phòng là phòng nó có động. (nói tiếp) Dân phòng chú ý.
Thị Màu: Dân phòng là phòng của dân hả cụ.
Xã Trưởng: Không. Dân phòng là dân cần đề phòng. Cái con này đúng là mít đặc cán mai thật! (rao tiếp) Nâu nay kẻ gian hay giật chó, câu mèo, bắt cóc trẻ con, mồi chài phụ lữ… Mọi người có gì…  thì giữ, chớ buông nỏng, chớ nơ nà… Chú ý, chú ý, nghe thông báo, thông báo!  
Thị Màu: (Nghe điện thoại) Ngài Xã trưởng, con phải đi có chút việc gấp Trung tâm Sén tơ (Center /'sentə/) Tư vấn Sắc đẹp gọi cho con.
Xã Trưởng: Ở xã còn khối việc, mày không đi được.
Thị Màu: Ối! Ói! Con đang muốn sửa… sửa cái sắc… sắc đẹp, con… con phải đi đây. (Ù té chạy).
Xã Trưởng: Con Thị Màu này cứ như con điên ấy.
Mõ đâu?
Mõ: ( Mặc bộ comle màu trắng đeo ca vát đỏ, dáng vẻ lịch sự, môi son, má phấn, tóc chải mượt) Dạ. Con đây ạ.
Xã Trưởng: (Ngắm nghía từ đầu đến chân Mõ) Ồ! Hôm nay mày trông bảnh quá! Handsome /'hænsəm/  “Hen sâm” đẹp trai quá! Chẳng giống thằng Mõ tẹo nào.
Mõ: Con mới chỉnh sửa trên dưới tí ti thôi  thưa ngài Mister Xã Trưởng. 
Xã Trưởng: Thời nay cũng lạ. Thời hiên đại có khác. Đàn ông chúng nó cũng đánh phấn môi son, trang điểm chẳng khác gì nữ giới. Hay chúng bê đê hết cả rồi cũng nên.
Mõ: Dạ. Không phải thế đâu ạ. Phụ nữ họ vùng lên bình đẳng. Chúng con cũng phải bình đẳng chứ ạ. Họ làm đẹp chúng con cũng phải làm đẹp, chúng con phải xóa nhòa cái từ ngữ “phái đẹp” của họ đi chứ. Họ đấu tranh bình đẳng, chúng con cũng phải đấu tranh đòi bình đẳng chứ ạ. Ngài thấy đấy, tự nhiên đã tạo ra những con công đực, chim trống, gà trống chả đẹp hơn con mái là gì. Theo quy luật lựa chọn tự nhiên đó thì đàn ông mới là “phái đẹp” đấy chứ ạ.
Xã Trưởng: Mày lý luận cũng hay hay, là lạ đấy.
Nhưng hôm nay gọi mày lên không phải là những chuyện ấy, mà là để bàn về chuyện lễ quan trọng sắp tới. Mày chuẩn bị đã kỹ lưỡng, chu đáo chưa?
Mõ: Ngài yên tâm đi. Mọi thứ đều chỉnh chu đâu vào đấy cả rồi. Con hứa là sẽ không có một tí tẹo sai sót nào.
Xã Trưởng: Tao tin tưởng tuyệt đối vào mày đấy. Về làm ngay kế hoạch chi tiết chương trình nghe chưa.
Mõ: Dạ. Con đi làm ngay đây ạ. (Ra).
Xã Trưởng: Hậu thế thời nay chúng nhanh nhẹn, kiến thức, đầu óc hơn lớp già mình nhiều rồi. Đúng là hậu sinh khả úy. Có lẽ cũng đã đến lúc mình rút lui vào hậu trường rồi.
*******
Thị Màu 2:  (Xuất hiện. Trang phục khác hẳn, người khác hẳn).
Xã Trưởng: (Xã Trưởng đi quanh Thị Màu, ngắm nghía) Mày là ai? Đến đây có việc gì?
Thị Màu: Ơ! Mister Xã Trưởng không nhận ra con à? Con là Thị Màu đây mà. (Cười vẻ đắc thắng, nói nhỏ) Đến cụ xã cũng không nhận ra mình. Công nghệ 4.0 có khác.
Xã Trưởng: (Lấy cán ô gõ gõ vào người Thị Màu, Thị Màu né tránh) Mày là Thị Màu thật à?
Thị Màu: Vâng. Con đích thị là Thị Màu đây.
Xã Trưởng: Sao trông mày khác thế?
Thị Màu: Cụ không nhận ra cũng phải. Con vừa đi Thẩm Mỹ viện để phẫu thuật thẩm mỹ vài chỗ.
Xã Trưởng: Phẫu thuật thẩm mỹ là gì nhỉ? Tao mới nghe lần đầu.
Thị Màu: Phẫu thuật thẩm mỹ là… à là mổ xẻ, lắp ghép, chỉnh sửa làm cho đẹp hơn.
Xã Trưởng: Đang tự nhiên tự lành sao phải mổ xẻ? Mày nói rõ hơn xem nào?
Thị Màu: Cụ xã, cụ nhìn con đây thì rõ. Nhờ kỹ thuật căng da mặt nên da bóng mịn hơn, mũi được sửa thành mũi dọc dừa, môi hình trái tim, bơm mông, gọt cằm cho nhọn như ca sĩ… nước ngoài vân vân và vân vân.
Xã Trưởng: Thế mày tốn mất bao nhiêu tiền? Có đến chục triệu không?
Thị Màu: Mister Xã trưởng đúng là lạc hậu, không theo kịp thời đại thật rồi. Con mất hai trăm triệu đấy.
Xã Trưởng: Ối! Ối! Ôi! Tao ngất mất. Thế mày lấy đâu ra tiền.
Thị Màu: Vay.
Xã Trưởng: Vay? Thế lấy gì mà trả.
Thị Màu: Lấy nó nuôi nó.
Xã Trưởng: Nghĩa là làm sao? Tao không hiểu.
Thị Màu: Sao cụ xã mit đặc với thời cuộc thế. Nghĩa là có sắc đẹp, đi hát trở thành ca sĩ. Ca sĩ kiếm tiền bạc tỉ cứ như thò tay vào túi lấy đồ ấy,  thưa Mister Xã Trưởng.

Thị Màu: Bây giờ chưa có việc con hát thử cụ nghe nhé?
Xã Trưởng: Ừ! Mày hát đi. Bây giờ mày sắp là ca sĩ rồi, mày thử biểu diễn xem, xem đã được bao nhiêu phần trăm ca sĩ? Hay cứ cầm míc lên là thành ca sĩ.. À nhưng mà không. Tao với mày thi hát nhại cho vui. Ai thắng thì được thưởng. Tao có mấy củ khoai đã được nướng chin trong lò “hát” (hot - /hɑt/ ) rực lửa. Ai thắng thì ăn khoai, ai tài thì uống sữa, (à quên) uống rượu. đứa nào yếu điệu, đứa ấy phải hầu, nào ta bắt đầu…  thi nhại.
Ai hát trước?
Thị Màu: Mister Xã Trưởng, Ngài hát trước.
Xã Trưởng: Ừ thì tao hát trước, mày cũng khôn đáo để đấy! Chứ chẳng ngu đần gì đâu. (Hát)
                 Theo em ta thì về.
Thị Màu: Theo ông em thì về
                 Thăm lại miền quê
Xã Trưởng: Nơi có một đàn dê
Thị Màu: Có hàng me ăn khi hè về.
Xã Trưởng: Ôi! Vợ ta thịt da nung núc
Phiên chợ nào cũng canh bún riêu
Thị Màu: Thiếu người thương ông về, ông về… về… đâu…
Xã Trưởng: Hay! Khá lắm! Thế là huề cả làng. Tiếp tục: Coming up (/'kʌmiɳ - ʌp/) thi nhại bài “Đêm mưa tỉnh nhỏ”
Thị Màu: Trời đổ mưa cho nỗi vắng mênh mông, cho lòng em thêm nhớ
Xã Trưởng: Trời làm mưa cho ướt áo em tôi, mắt ơi hoa mất rồi
Thị Màu: Tình yêu đến ta sa vào thương nhớ
Xã Trưởng: Những đêm mưa không ngủ gợi nhớ buổi đi cày
Thị Màu: Mấy đêm trời mưa gió. Thấu chăng người tình nhỏ cuốc đất cả một đời
Xã Trưởng: Ra vào thường hay ngó, đường đi về chung ngõ
Hát đôi: Những lúc cùng ngồi bổ dưa.
Thị Màu: Thế là lại huề rồi. cụ ơi!
Xã Trưởng: Thôi không thi hát nữa. Bây giờ ta thi chơi chữ.
Thị Màu: Chơi chữ? Chữ mà cũng chơi được à?
Xã Trưởng: Sao không? Mày không thấy học sinh chúng nó học bài tiếng Anh plây uy uôt “Play with Word (/plei - wi - wə:d/) “Chơi với chữ” đó à?
Thị Màu: À… à… Con hiểu rồi. “Chơi với chữ”. Vậy thưa ngài Mister Long - Đơ ré gân (Dragon).
Xã Trưởng: Mày nói gì?
Thị Màu: Con nói: Thưa ngài Mister Long - Đơ ré gân.
Xã Trưởng: Thế là sao?
Thị Màu: Cụ tên là Long phải không ạ?, Long nghĩa là Rồng. Rồng tiếng Anh là Dragon (/'drægən/). ghép lại Long Dragon nghĩa là Dài Rồng là Rồng Dài. Rồng Dài là Trường Long. Tiếng Anh nói là: Cu la Truong Long.
Xã Trưởng: Con này láo!
Thị Màu: Con đâu có láo! Con đọc theo tiếng Anh, tiếng Anh không có dấu ạ.
Xã Trưởng: Thôi tha cho mày. (Lẩm bẩm) Trường Long là Rồng dài. Rồng dài là Rồng vĩ đại. Siêu Rồng Su pơ Đơ ré gân Super Dragon (/'suːpə - 'drægən/).  Hay! Hay! Tao là Siêu Rồng. À này! Nhưng mà, mày chữ Anh bẻ đôi không biết, mày học tiếng Anh lúc nào vậy?
Thị Màu: Con đi hát Chèo, hát Quan họ và diễn vở “Thị Màu lên chùa” cho mấy ông Tây nó nghe. Họ dạy con nói mấy câu tiếng Anh “bồi” đấy thưa cụ. Nói mãi, học mãi cũng thành quen. Bây giờ con còn kiêm cả hướng dẫn viên du lịch - tua rit gai đờ (tourist Guide - 'tuərist - gaɪd) nữa đấy thưa cụ.
Xã Trưởng : Mày thế mà giỏi ra phết nhỉ! Thị màu thời a còng, bốn chấm không có khác. Chả bù cho tao người cổ lai hy, thời Tần Thủy Hoàng khai thiên lập địa. Thế mà giờ tao cũng võ vẽ được mấy từ tiếng Anh  Mỹ - Ơ mé ri cơn ín gơ li sơ (American English (/ə'merikən - 'iɳgliʃ/) chứ tao không thèm nói tiếng Anh Anh đâu nhé.
Thị Màu: Cụ cũng võ vẽ tiếng Anh, tiếng Em, thế thì con kể cụ nghe. Con đi giao lưu với mấy thằng Tây ba lô. Học được câu tiếng Anh nào thì thực hành liền liền, nên nói luôn. Hôm ấy có hai thằng Tây ba lô đến hỏi con:
Tên cô là gì?
Con bật luôn:
Mai nêm xờ Thị Màu. (My name is Thi Mau - Tên tôi là Thị Màu)
Hai thằng Tây ba lô nghe xong lười lăn cười lóc, cười vãi đái.
Này Tom: Nó nói tên nó là Thi Mau à?
Không. Nêm. Nó bảo Mai mày đến xờ Thi Mau. Mày chả tên là Nêm là gì.
Thị Màu: Mặc kệ, con nổ tiếp: thanh kiu (Thank you  /thank-you/)
-Nêm. Thế là nó lại chối rồi đấy. Tiếng Việt “Cảm ơn” nghĩa là từ chối.
Mặc chúng. Con lại nổ tiếp:
 Ueo khâm iu (Welcome you   (/'welkəm - ju:/)     
-Kìa Nêm nó nói”Không dám” là chối rồi đấy.
-Không đâu. Tiếng Việt nói thế là “Không có gì”, nghĩa là “Đồng ý đấy”.
Con cứ tỉnh bơ, mặc kệ chúng muốn hiểu thế nào thì hiểu. Hóa ra hai thằng Tây ấy là hai thằng tiến sĩ ngôn ngữ sang nghiên cứu tiếng Việt ở một trường Đại học.
Xã Trưởng: Tiếng Việt kinh thật! Thâm thúy ghê!
(Nhìn đồng hồ) À, mà đã đến lúc rồi đấy!
---------------------
Xã Trưởng: Này Thị Màu. Ra gọi anh Mõ vào đây cho bác.
Thị Màu: Ngài Xã Trưởng, tự nhiên ngài thay đổi như người ở thời đại khác, người khác vậy!
Xã Trưởng: Quá khứ đã qua rồi và bây giờ là hiện tại. Cháu ra gọi anh Mõ vào cho bác. Ta đã suy nghĩ kỹ, thời gian đã trôi qua 100 năm và ta đã chuẩn bị cho một quyết định quan trong vào hôm nay.
Nhân viên vp: ( Vào) Thưa cụ xã: Đã có quyết định từ cấp trên gửi về rồi ạ. (Đưa tập công văn và quyết định cho Xã Trưởng)
Xã Trưởng: (Mở xem) Tốt. Ok. Cậu ra gọi anh Mõ  vào.
Nhân viên vp:  (Ra. Rồi Mõ và Nhân viên văn phòng cùng vào).
Xã Trưởng: Bà con trong xã đến đông đủ cả chưa, Tiến sĩ?
Mõ: Dạ. Báo cáo bác, bà con đã đến đông đủ rồi ạ.
Xã Trưởng: Cháu chú ý! Khi bắt đầu thì mở cái loa to lên cho bác nhé. Bác vào trong một chút. (Vào)
(Thị Màu cùng vào)
Mõ: (Nói với nhân viên) Cậu ra bảo mấy người khênh bục diễn thuyết vào đây.
(Hai nhân viên khênh bục vào).
Mõ: (Nói với nhân viên văn phòng) Có bao nhiêu người đã đến dự buổi lễ?
Nhân viên VP: Báo cáo anh hơn 400 người ạ.
Mõ: Loa đài chuẩn bị tốt cả rồi chứ?
Nhân viên VP: Mọi thứ đâu vào đấy rồi ạ
Mõ: Tốt rồi. Đợi bác Xã Trưởng và Thị Màu vào là bắt đầu ngay nhé.
(Xã Trưởng mặc bộ com lê màu đen, ca vát đỏ và Thị Màu mặc sơ my trắng, áo vet màu xanh, thắt nơ đỏ cùng đi vào)
Nhân viên VP: Trông chị Màu hôm nay kiu quá, xinh quá! (cute - /kju:t/)
Xã Trưởng: (Quay sang Thị Màu) Ta bắt đầu buổi lễ nhé.
Thị Màu: (Đứng trên bục diễn thuyết) Thưa bà con. Hôm nay là một ngày trọng đại của xã nhà - ngày tiến sĩ Nguyễn Văn Mõ nhậm chức Chủ tịch xã. Xin kính mời ngài Xã Trưởng lên phát biểu ý kiến mở đầu buổi lễ.
Xã Trưởng: (Hắng giọng, vẻ trịnh trọng, xúc động) Kính thưa bà con, cô bác và toàn thể công dân trong xã. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà xã hội thay đổi từng ngày, từng giờ, thời đại 4.0, thời đại du hành vũ trụ, thời đại của máy bay cá nhân, thời đại của những phát minh kỳ diệu không tưởng tượng nổi, lớp trẻ ngày nay hoàn toàn xứng đáng thay thế cho thế hệ già đi trước. Hôm nay tôi xin trân trọng chuyển giao chính quyền cách nay một thế kỷ cho thế hệ trẻ ngày nay, người thay thế tôi là tiến sĩ Nguyễn Văn Mõ và thạc sĩ chị Đinh Thị Màu. Kể từ giờ phút này thế hệ trẻ tài năng này là những người lãnh đạo xã nhà. Tôi tin tưởng sâu sắc rằng họ sẽ là những người thay thế xứng đáng đàn anh đi trước. Xin bà con cho một tràng vỗ tay thật lớn nhiệt liệt chúc mừng buổi lễ long trọng này. (Xúc động rơm rớm nước mắt, người hơi lao đao).
Thị màu đi đến đỡ Xã Trưởng. Các nhân vật xếp hàng ngang cúi chào khán giả. (Tiếng vỗ tay nổi lên rào rào).
(Hạ màn)





Xã Trưởng 2                             Thị Màu 2                    Mõ 2
                                 
                                                     Hà Nội ngày 4.4.2018

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2018

Nhớ mùa trút lá


LÊ THANH LONG

Nhớ mùa trút lá
                            (Ca khúc)

Em như cây hoa ngát
Trong ngôi làng mù sương
Ngàn năm cùng cỏ hát
Một điệp khúc yêu thương
   Em như cây ém nụ
   Chẳng thể nào ra hoa
   Quên nỗi buồn đã cũ
   Mấy mùa xuân mau qua
Xuân qua, xuân lại qua
Xuân đi không trở lại
Em chờ… và chờ mãi…
Mang nỗi buồn chia xa
   Em như người xa lạ
   Với mối tình cô đơn
   Cây chẳng biết giận hờn
   Nhớ bao mùa trút lá…













Em là cây hoa lạ
Nắng đổ vàng ngã ba
Nhớ mỗi mùa thay lá
Biền biệt người phương  xa
   Đời như con sông chảy
   Tình yêu thời hoang sơ
   Sông muốn đổ tràn bờ
   Mà nỗi tình không nỡ.