Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

GIẤC MƠ GẶP NGƯỜI THIÊN CỔ

 

GIẤC MƠ GẶP NGƯỜI THIÊN CỔ

 

                                    (Truyện ngắn lịch sử)

 

Để tiện theo dõi câu chuyện xin liệt kê các nhân vật được nhắc đến trong câu chuyện:

1.    Nguyễn Du (1765 - 1820), tác giả Truyện Kiều

2.    Thần Siêu, tức Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872)

3.    Thánh Quát, tức Cao Bá Quát (1809 - 1855)

4.    Đặng Trần Côn (khỏang 1715 - 1745), viết Chinh Phụ Ngâm khúc bằng chữ Hán

5.    Đoàn Thị Điểm (1705 - 1749), dịch Nôm Chinh Phụ Ngâm

6.    Phan Huy Ích (1751 – 1822), dịch Nôm Chinh Phụ Ngâm

 

Một đêm mông lung. Không ngày, không tháng. Không đầu không cuối. Không gian và thời gian trôi tuột đi, như trượt trên một khe hẹp của tầng vũ trụ huyền ảo. Ánh sáng và bóng tối đan xen nhau. Vô định. Nghi mơ thấy mình đang bay lên nhẹ bỗng, lơ lửng, lướt đi trong không gian sáng lòa, rực rỡ. Anh giang rộng hai cánh tay, phía dưới là những cánh đồng, dòng sông và thảo nguyên xanh mướt.

Nghi đang trôi, đang bay, đang lướt đi trên con sông đời. Dòng sông đời lấp loáng đủ màu sắc: Đen, trắng, vàng, xanh, đỏ, lục, lam, chàm tím… được chiếu sáng không biết từ một ngôi sao nào đó trong vũ trụ xa xăm. Anh đang lướt đi như bay trên con sông đời ấy. Anh đang ngược dòng thời gian trở về với quá khứ xa xôi.

Nghi đang bay lướt trên con sông đời rộng mênh mông như biển, mặt nước lao xao, lấp lánh ánh bạc. Dòng sông mỗi lúc một hẹp lại. Khoảng cách được tính bằng năm. Anh đang bay ngược thời gian trở về với quá khứ xa xăm. Có lẽ anh đã bay ngược về quá khứ được trên hai trăm năm. Anh bay về quá khứ, mong muốn tìm gặp những bậc văn nhân thiên cổ. Mong làm sáng tỏ những nghi vấn của anh và của những người yêu mến văn chương ngày đêm trăn trở.

Đột nhiên trước mắt anh hiện ra một dòng sông bạc lấp loáng với những hạt ngọc lung linh nhấp nhô trên sóng. Dòng sông có nhiều nhánh rẽ lên thượng nguồn. Nghi không biết mình phải đi theo nhánh nào? Anh nhắm mắt cầu khấn, xin các bậc vĩ nhân thiên cổ phù hộ cho anh, đến đúng nơi cần đến. Sau đó, anh rẽ liều vào một nhánh Sông Văn. Dòng sông nhỏ dẫn đến một cái hồ. Mặt hồ xanh như ngọc, ánh sáng bạc lấp lóa trên mặt hồ. nhấp nháy như những ngôi sao nhỏ.

Một con thuyền màu trắng như lụa, đang lướt nhẹ trên mặt hồ. Một giọng ngâm thơ trầm buồn như từ cõi trời xa xôi vọng lại. Rồi một con thuyền trắng toát dần dần hiện ra rõ hơn. Trên thuyền một người đàn ông thấp bé, râu tóc bạc phơ đang ngồi trầm ngâm giữa bồng bềnh mây trắng. Một giọng ngâm cổ trầm và ấm cứ rõ dần, rõ dần. Người trạc ngoại ngũ tuần, nét mặt hiền hậu, đượm buồn, phong cách dân giã, phong trần. Nghi vội vàng lướt đến, nhẹ nhàng hạ xuống sàn thuyền. Hai tay chắp cung kính:

-         Thưa tiền bối, hậu sinh mạn phép đã quấy rầy tiền bối. Xin tiền bối chỉ giáo. Đây là hồ… Nghi cố ý kéo dài giọng như muốn hỏi.

-         Hồ Văn.

-         Hồ Văn ạ? Cái tên nghe thơ mộng quá, thưa tiền bối. Người ở đây đã lâu chưa ạ?

-         Ta ở đây đã được trên hai trăm năm rồi.

-         Ngươi từ đâu tới?

-         Dạ. Thưa tiền bối, hậu sinh từ Hà Nội tới.

-         Hà Nội là ở đâu nhỉ?

-         Dạ. Thưa tiền bối. Trước đây gọi là Thăng Long ạ.

-         Thăng Long à. Ra vậy. Ta nhớ ra rồi. Thăng Long là nơi thời niên thiếu ta đã sống ở đó.

-         Thưa tiền bối. Người thứ lỗi. Người là ai ạ?

-         Ta là ai ư? Ông nhìn Nghi mỉm cười, nụ cười độ lượng, phẳng phất nét buồn sâu thẳm, rồi ông khe khẽ ngâm: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Nghi giật mình kinh ngạc, chắp hai tay cung kính:

-         Hậu sinh có mắt như mù. Hóa ra tiền bối là Nguyễn Tiên Điền? Nguyễn Du tiền bối.

-         Hậu sinh có nhiều điều muốn được thỉnh giáo về những tác phẩm của tiền bối.

-         Vậy ư.

-         Thưa tiền bối. Hậu thế đã có hàng nghìn bài viết về “Đoạn trường tân thanh”, mà nhiều điều vẫn còn chưa sáng tỏ. Tiền bối có thể giải thích cho hậu sinh vài điều không ạ?

Người mỉm cười, nụ cười nửa như mãn nguyễn, nửa như phảng phất nét buồn:

-         Ta biết.

Nghi chắp tay cung kính, chờ đợi. Khi ngẩng đầu lên, thì chiếc thuyền bạc đã tan biến vào không gian, không để lại dấu tích gì. Nghi chỉ thấy mình đang lơ lửng trên mặt Hồ Văn.

Nghi bâng khuâng mất một lúc, luyến tiếc, rồi cất mình bay trên mặt hồ, nhằm ngôi nhà ở sườn núi phía đông lướt tới. Mới bay được một lát. Nghi nhìn thấy một ông già râu tóc bạc phơ, đang ngồi, thả cần trúc còn nguyên cả lá ở đầu cành, xuống mặt hồ. Nghi dừng lại chắp tay cung kính lễ phép:

-         Thưa tiền bối. Tiền bối đang làm gì đấy ạ?

-         Ông già vuốt bộ râu dài trắng như cước, rồi khe khẽ ngâm: “Ta ngồi câu chữ hồ Văn/ Văn hồ còn lặng, câu trăng đáy hồ”.

-         Tiền bối nói về thời xưa hay thời nay ạ?

-         Thời nào, thì ngươi phải luận ra chứ?

Rồi ông già trầm ngâm, hồi tưởng:

-         Ngày xưa, hồ Văn còn rất nhỏ. Bây giờ hồ rộng ra nhiều, mênh mông và đầy lên, có cảm tưởng như sắp tràn bờ. Ta đã ngồi câu ở đây hơn trăm năm, nhưng chưa câu được một chữ vàng óng ánh nào cả.

-         Thưa tiền bối. Vì chữ vàng không có, hay vì chữ không cắn câu ạ?

-         Vì chữ Văn không nổi lên, mà đều chìm nghỉm hoặc lơ lửng ở lưng chừng hồ.

-         Thưa tiền bối. Tiền bối có biết Thần Siêu, Thánh Quát không ạ?

-         Ta có biết. Và biết rất rõ là đằng khác.

Rồi ông trầm ngâm kể. Thánh Quát cuộc đời chìm nổi. Không có học vị, chẳng có danh vị. Nhưng thơ thì hay vô cùng, nên người đời mới phong ông là “Thánh”.

Nghi lại lễ phép chắp tay hỏi:

-         Thưa tiền bối. Tiền bối có biết Thần Siêu không ạ?

-         Thần Siêu ư? Ngươi biết gì về ông ta?

-         Thần Siêu đã vận động người Hà Nội trùng tu đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, xây thêm đài Nghiên, Tháp Bút, đắp núi Độc Tôn.

-         Thực sự, là ngươi muốn tìm ai? Ta biết chắc, người ngươi tìm không phải là Thần Siêu, Thánh Quát.

-         Thưa tiền bối, ngài đúng là thần, Thần Siêu rồi.

Nghi chưa nói hết câu, ông đã tan biến vào khoảng không gian huyền bí, không để lại dấu vết gì, kể cả cái cần trúc câu chữ.

Nghi lại cất mình bay bổng lên, hướng đến cái nơi cần đến.

Xa xa, cạnh một cây ngô đồng cảnh, cổ thụ, cao đến ba mét, hoa nở đỏ rực rỡ, có hai ông già râu tóc bạc phơ đang ngồi đánh cờ, quân cờ làm bằng ngà voi đã lên nước bóng của những ngón tay chạm vào. Nghi vội vàng nhẹ nhàng hạ mình xuống, nấp sau cây ngô đồng.

Ông râu ngắn hỏi ông râu dài:

-         Thi huynh có biết tại sao Đặng Trần Côn đoản thọ không?

-         Vì bao nhiêu tinh lực tinh túy trong người ông ấy rút ra hết, đổ vào “Chinh Phụ Ngâm khúc” cả rồi. Ta đã có dự đoán trước là ông ấy sẽ đoản thọ.

-         Thi huynh nói chí phải. Bao nhiêu nguyên khí ông ấy trút ra hết, liệu còn cái gì để tồn tại nữa. Hay là người ta đã vươn tới cái đỉnh cao nhất rồi, nên không còn động lực gì để viết và sống tiếp nữa chăng? Ông râu ngắn đồng tình.

Ông râu dài gật gù:

-         Sao mà biết hết được việc đời, cũng có thể lắm!

Ông râu ngắn dúi một nước tốt qua sông, rồi cười khà khà, không cần nhìn lên:

-         Này anh bạn trẻ, ra khỏi cây ngô đồng đi. Ngươi muốn tìm ai? Sao lại đứng nghe lỏm chuyện của chúng ta?

Ông già râu dài hóm hỉnh:

-         Có phải người muốn tìm gặp Đặng Trần Côn phải không?

-         Hai vị tiền bối đúng là thần thánh, không xưng người cũng biết.

-         Ngươi đi đến cây sung già ở mạn Đông ấy.

Nói xong hai ông già râu tóc bạc phơ biến mất cùng với bàn cờ.

Nghi cất mình bay về hướng Đông. Nơi đó có những dòng Suối Văn. Những dòng Suối Văn óng ánh lấp lánh như thủy ngân. Nghi rẽ liều vào một dòng Suối Văn bên phải. Dòng Suối Văn chảy men theo một ngọn núi xanh như ngọc bích. Nghi nhìn thấy bên trái sườn núi có một người trai trẻ, chưa đến ba mươi tuổi, tóc để dài, đen nhánh. Khuôn mặt khôi ngô, tuấn tú, ánh mắt trong sáng. Người thanh niên đang múc nước ở Suối Văn, tưới lên một ngọn núi nhỏ, bên cạnh là chiếc bàn đá đã lên nước bóng. Nghi tiến đến trước mặt người thanh niên cung kính:

-         Thưa tiền bối. Tiền bối đang làm gì đấy ạ?

-         À, ta đang tưới nước Núi Văn.

-         Tưới nước lên Núi Văn? Thưa tiền bối, tưới lên núi thì có ích lợi gì ạ?

-         Nếu không thường xuyên tưới nước, núi cũng sẽ khô héo. Cây thơ, hoa chữ không nẩy chồi, ra hoa, kết trái được. Núi Văn cần những dòng nước văn chương luôn luôn tươi mới.

-         Thưa tiền bối. Hậu sinh xin hỏi khí không phải. Có phải Người là… Người đã viết “Thiên địa phong trần/ Hồng nhan đa truân”, phải không ạ?

-         Sao ngươi biết?

-         Hậu sinh đoán vậy, vì thấy tiền bối còn rất trẻ. Hình như Người viết “Chinh Phụ Ngâm khúc” lúc người mới ngoài hai mươi tuổi, phải không ạ?

-         Đúng vậy đó.

-         Thưa tiền bối Đặng Trần Côn, hậu sinh hơi tò mò một chút. Khi viết xong “Chinh Phụ Ngâm khúc”, Người đưa cho ai đọc trước tiên ạ?

-         Ngô Thời Sỹ. Còn người phụ nữ ta gửi đọc đầu tiên là Đoàn Thị Điểm. Bà ấy hơn ta khoảng chục tuổi. Thời đó ta cũng không có nhiều bạn văn chương. Lúc đó bà ấy vừa lấy tiến sĩ Nguyễn Kiều được khoảng một tháng, thì ông ấy được lệnh đi sứ sang Trung Quốc. Ta nghĩ, bà ấy đang buồn, nên ta đưa bà ấy đọc để khuây khỏa.

-         Sau khi bà Đoàn Thị Điểm dịch Nôm “Chinh Phụ Ngâm” xong, có đưa lại cho tiền bối xem không?

-         Tất nhiên là có rồi. Ta rất ngạc nhiên về bản dịch của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Văn chương sáng láng, chữ nghĩa từ gan ruột nấy ra, có nhiều chỗ dịch còn hay hơn cả bản chữ Hán của ta. Chất nữ giới thấm đẫm ở trong bản dịch. Có lẽ nỗi lòng của bà Đoàn xa chồng, chẳng khác gì người chinh phụ chờ chồng ở chiến trận trở về, nên bản dịch của bà mới hay đến vậy.

-         Thưa tiền bối. Bản dịch của bà Đoàn chuyển cho tiền bối có đề tên không?

-         Không. Gửi cho nhau, là biết nhau rồi, việc gì phải đề tên. Anh bạn trẻ hỏi hơi nhiều rồi đấy!

-         Dạ. Thưa tiền bối. Cũng chính vì thế, hậu thế mới vật vã đi tìm lời giải, xem bản dịch nào là của bà Đoàn Thị Điểm, bản nào là của Phan Huy Ích?

Nghi chưa nói hết câu. Đặng Trần Côn đã tan biến đi như một làn hơi, không để lại dấu vết gì.

Nghi đứng lặng hồi lâu, bâng khuâng ngắm ngọn Núi Văn, ngọn núi cao vòi vọi. Rồi chợt nhớ đến mục đích của mình, anh cất mình bay lên, rẽ sang dòng Suối Văn bên cạnh. Dòng suối êm đềm, róc rách những mạch nguồn văn chương của người thiên cổ. Không lâu sau, Nghi nhìn thấy một ngôi nhà xinh xắn, xung quanh là những vườn rau xanh tốt, trước mặt là hồ nước nhỏ. Một phụ nữ khoảng ngoài bốn mươi tuổi, nhưng trông vẫn còn trẻ trung, xinh đẹp, ăn mặc giản dị với áo vải màu xanh, đoan trang, hiền dịu. Bà đang tưới cho một cây rất lạ, gốc sần sùi như núi đá, bên trên tỏa ra những cành lá sum suê, mỗi cành có một loại hoa màu sắc khác nhau, có hoa màu đỏ như hoa gạo, có hoa màu tím như hoa sim, mấy bông giống như hoa đào, bấy bông giống như hoa mai vàng rực rỡ… Có cành quả còn xanh, có cành quả đã chín vàng.

Nghi đến gần chắp tay cung kính:

-         Thưa tiền bối. Tiền bối đang làm gì đấy ạ?

-         Ta đang tưới cho Cây Văn.

-         Tưới cho Cây Văn. Đây là Cây Văn ạ. Cây Văn của tiền bối quả là đa sắc, đa hình, nở hoa rực rỡ. Thưa tiền bối. Tiền bối có thể cho hậu sinh mấy hạt, mấy cây về trồng được không ạ?

-         Ngươi quả là khôn ngoan, nhưng Cây Văn không xin giống được, nó sẽ không nẩy mầm, mà nếu có nẩy mầm, thì cũng không ra hoa, kết trái được. Phải tự mình lai giống, ghép cây, chăm bón, tạo ra một Cây Văn của riêng mình.

-         Dạ. Hậu sinh hiểu ý của tiền bối. Tiền bối đã từng đọc nguyên bản chữ Hán “Chinh Phụ Ngâm khúc” của Đặng Trần Côn chứ ạ?

-         Ta còn lạ gì “Chinh Phụ Ngâm khúc”, chính Đặng Trần Côn đã tặng cho ta, có lẽ ta là người phụ nữ may mắn được ông gửi tặng.

Nghi mừng như mở cờ trong bụng. Nghi đã tìm gặp được người Nghi cần gặp. Nhưng phải hỏi như thế nào đây? Khó quá! Phải liều thôi!

-         Thưa tiền bối. Tiền bối dịch Nôm “Chinh Phụ Ngâm” trong thời gian bao lâu ạ?

-         Ta dịch trong hai ba tháng gì đó. Ta cũng không nhớ rõ nữa. Đã 260 năm rồi còn gì.

-         Thưa tiền bối. Tiền bối dịch câu “Thiên đia phong trần/ Hồng nhan đa truân” thật là tuyệt bút. Nhưng sao tiền bối không dùng chữ “hồng nhan” như nguyên bản, mà lại thay bằng “Khách má hồng”?

Rồi Nghi cất cao giọng ngâm: “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”.

Bà Đoàn nhìn Nghi mỉm cười:

-         Có phải đây là mục đích ngươi đã vượt gần ba trăm năm trở về quá khứ, chỉ để hỏi mấy điều này phải không?

Nghi toát mồ hôi hột, ấp úng không biết trả lời ra sao. May quá, Bà vui vẻ nói tiếp:

-         Thời đó, đàn ông hay gọi phụ nữ chúng ta là “hồng nhan”. Ta là phụ nữ, ta không thích chữ đó. Hồng nhan thường đi với bạc mệnh. Cụm từ “khách má hồng” mới đặc trưng cho giới phụ nữ thời chúng ta.

-         Thưa tiên bối. Hậu sinh có một câu hỏi nữa, xin tiền bối tha thứ, vui lòng chỉ giáo.

-         Ta cho phép ngươi hỏi.

-         Dạ. Thưa tiền bối. Hai câu dịch Nôm của tiên bối: “Sương như búa, bổ mòn gốc liễu/ Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô”, rất tuyệt vời. Hậu thế chúng tôi rất phâm phục. Nhưng lại nẩy ra thắc mắc, vì trong nguyên tác của Đặng Trần Côn viết “Sương phủ tàn hề dương liễu/ Vũ cứ tổn hề ngô đồng”. Không có từ “búa”, “bổ” và từ “cưa”, “xẻ”.

-         Những từ đó là từ phóng tác của ta, đúng là không có trong nguyên tác. Ta dịch, chú ý đến văn chương và cảm xúc, ta chú ý chuyển tải cho được cái hay của nguyên tác, chứ không phụ thuộc vào từng câu, từng chữ.

-         Thưa tiền bối. Thời tiền bối, khi tặng bản sách mình dịch cho thi huynh, thi hữu, có đề tên người tặng không ạ?

-         Không.

-         Hậu sinh đọc được, có bản chép Nôm “Chinh Phụ Ngâm” đề chữ “Nữ giới’. Điều đó có nghĩa gì ạ?

-         Có thể, đó chỉ là lời khuyên phụ nữ nên đọc, sách cho nữ giới.

-         Hậu sinh xin vạn vạn lần cảm ơn tiền bối. Nếu có điều gì không phải, xin tiền bối xá tội.

Nói xong Nghi ngước lên, thì đã không thấy gì trước mặt nữa. Trước mắt Nghi là bầu trời nửa sáng, nửa tối, những ngôi sao nhấp nháy. Nghi bồi hồi luyến tiếc. Bỗng Nghi nghe thấy một giọng nói từ đâu đó xa xôi vọng tới:

-         Hỡi anh bạn trẻ! Ngươi có tìm gặp Phan Huy Ích cũng không sáng tỏ được gì đâu. Thời gian đã làm mờ đi nhiều sự kiện lịch sử. Muốn biết bản dịch nào của Đoàn Thị Điểm, bản dịch nào của Phan Huy Ích, cách duy nhất là tìm sự thật trong chính những tác phẩm văn học đó còn để lại.

-         Xin cảm ơn các bậc tiền bối đã chỉ dẫn.

Bỗng tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang. Nghi giật mình, choàng tỉnh. Hóa ra là một giấc Nam Kha.

 

Vào một chiều cuối thu, trong một quán cà phê, trong khi chờ đợi những giọt cà phê đặc sánh tí tách rơi. Nhà văn Tô Văn Nghi đã kể lại cho tác giả về giấc mơ kỳ lạ của mình. Tác giả chỉ là người ghi lại, mong mua vui cho độc giả dăm phút khi rảnh rỗi.

 

LÊ THANH LONG

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2020

 

LỄ KỶ NIỆM 255 NĂM NGÀY SINH (1765 - 2020)

TƯỞNG NIỆM 200 NĂM NGÀY MẤT (1820 - 2020)

ĐẠI THI HÀO NGUYỄN DU

VÀ HỘI THẢO KHOA HỌC: “Tiếng Việt trong Truyện Kiều” ĐƯỢC TỔ CHỨC TRONG HAI NGÀY 25 và 26 tháng 9 năm 2020

NGÀY 25 THÁNG 9 NĂM 2020:

SÁNG: Hội thảo Khoa học “Tiếng Việt trong Truyện Kiều”.

CHIỀU: Trao bằng chứng nhận và trao phần thưởng hai cuộc thi:

1. Cuộc thi “Bạn đọc thuộc Kiều” và

2. Cuộc thi “Văn tế Đại thi hào Nguyễn Du”.

NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 2020:

SÁNG: 8h00: Lễ giỗ Đại thi hào Nguyễn Du tại Thị trấn Tiên Điền, Huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

CHIỀU TỐI: 20h00: Lê kỷ niệm 255 năm Ngày sinh, tưởng niệm 200 năm Ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du, tại Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh: Số 21 Phan Đình Phùng, Tp. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.








Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

HÀNH TRÌNH CỦA THÚY KIỀU TRONG 15 NĂM LƯU LẠC


HÀNH TRÌNH CỦA THÚY KIỀU
TRONG 15 NĂM LƯU LẠC

                                  LÊ THANH LONG

Trong 15 năm lưu lạc giang hồ Thúy Kiều đã đi đến những đâu, bằng những phương tiện nào?
Đó là câu hỏi không dễ giải đáp.
Chúng ta sẽ thử lần tìm lời giải đáp theo hành trình của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

1. TỪ BẮC KINH ĐI LÂM TRI 
Thúy Kiều người Bắc Kinh. Điều này đã được người lại già họ Đô nói ra với Kim Trọng:
“2889. Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về”.
Khi đến Chiêu Ẩn Am Thúy Kiều nói với Giác Duyên:
“2043. Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu”.
Mã Giám Sinh mua Kiều ở Bắc Kinh rồi đưa nàng về Lâm Tri bằng đường bộ, đi bằng xe ngựa:
“869. Đoạn trường thay lúc phân kỳ,
Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh.
907. Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay”.
Cuộc ra đi của Thúy Kiều từ Bắc Kinh đến Lâm tri theo đường bộ, đi trong một tháng tròn:
“919. Những là lạ nước lạ non,
Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi”.



HÌNH 1:
2. Bắc Kinh
4. Lâm Tri
Quãng đường Từ Bắc kinh đến Lâm Tri theo đường chim bay khoảng 800km, mà đi mất 30 ngày, chứng tỏ đường xá lúc đó rất khó đi, mỗi ngày chỉ đi được khoảng 27 km, đi mỗi ngày 8 tiếng, tốc độ khoảng 3,4 km/ giờ.
Bản đồ đường đi của nàng Kiều Từ Bắc Kinh đến Lâm Tri (Hình 1, vạch đỏ).

2. TÚ BÀ ĐƯA THÚY KIỀU ĐẾN LẦU NGƯNG BÍCH ĐỂ KHÓA XUÂN
Bị Tú Bà đưa đến khóa xuân ở lầu Ngưng Bích ngay cửa sông Tiền Đường. Thúy Kiều làm thơ tả lại quang cảnh ở đây và nỗi lòng mình:
“1047. Buồn trông cửa biển chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
1053. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồ”i.
Cửa sông Tiền Đường rất rộng, bề ngang tới 100 km. Khi thủy triều lên, dồn ngược lên khúc sông hẹp, có ghềnh thác, gây ra những con sóng cao tới hàng mét, đập vào hai bên bờ ầm ầm:
“2619. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường”.
Ở đây nàng Kiều bị Sở Khanh lừa và bị Tú Bà bắt lại đưa về Lâm Tri. Lầu Ngưng Bích cách Lâm Tri 75 km, vừa đi vừa về là 150 km.
Không biết Lầu Ngưng Bích có phải là nơi Tú Bà đưa khách làng chơi sang trọng và gái lầu xanh đến đây ăn chơi và du lịch hay không?

3. TỪ LÂM TRI ĐẾN VÔ TÍCH 
Thúy Kiều làm gái lầu xanh ở chỗ Tú Bà trong ba năm. Sau đó được Thúc Sinh chuộc ra, ở với nhau được 6 tháng, thì Thúc Ông biết và kiện lên quan phủ, bắt Thúy Kiều phải trở lại lầu xanh. Được quan phủ tác hợp cho lấy Thúc Sinh. Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thú thực với vợ cả để được lấy Kiều làm lẽ. Thúc Sinh về với Hoạn Thư được một năm, thì Hoạn Thư khuyên Thúc Sinh về Lâm Tri chăm sóc bố:
“1599. Cách năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn”.
Thúc Sinh vừa đi khỏi thì Hoạn Thư đến nhà mẹ đẻ Hoạn Bà trình bày kế hoạch bắt Thúy Kiều:
“1613. Lâm Tri đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần”.
Thúc Sinh từ Vô Tích đi đường bộ phải mất cả tháng, còn nếu đi bằng đường biển thì gần hơn, mất ít ngày hơn, vì có thể đi suốt ngày đêm.
Thúy Kiều bị bọn Khuyển Ưng đến Lâm Tri bắt đưa về Vô Tích bằng đường biển:
“1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về”.
Trong “Kim Vân Kiều truyện” có chép rằng Hoạn Thư nói với Hoạn bà:
“Con tính đã kỹ lắm. Lâm Tri là đất miền biển, nếu men đường biển mà đi thì chỉ không đầy 10 ngày có thể đi về được một chuyến. Chồng con chưa đi đến nửa đường thì công việc của con đã được xong xuôi” (Trang 216).
Khuyển Ưng thì thận trọng hơn, hai người nói:
“- Cảm ơn tiểu thư giao phó việc nhỏ bé ấy, làm có khó gì. Chúng con sẽ từ Thái Thương ra biển, không đầy năm ngày thì đến Lâm Tri. Chỉ cần dò la chính xác chị ta ở đâu, chúng con sẽ bắt xuống thuyền rồi theo biển mà về. Không quá nửa tháng sẽ có thể đưa nộp cho tiểu thư” (Trang 218).
Vô Tích là một thành phố trực thuộc tỉnh Giang Tô. Vô Tích nằm trên bờ sông Dương Tử (Trường Giang). Thành phố này nằm ở phía Nam của tỉnh Giang Tô, khoảng nửa đường giữa Thượng Hải và Nam Kinh, cách Thượng Hải 128 km về phía Đông và cách Nam Kinh 183 km về phía Tây. Vô Tích được bao bọc bởi nước, với Thái Hồ miền Nam và sông Dương Tử về phía Bắc.


THÀNH PHỐ VÔ TÍCH
Thành Phố Vô Tích (Hình 2)
Vô Tích nằm phía trên Thái Hồ (hồ lớn màu xanh phía dưới) theo kênh Đại Vận Hà đi ngược lên con sông màu xanh (hình 2), có thể là con sông Thái Thương mà Khuyển Ưng nói tới, sông Thái Thương chính là sông Dương Tử hay còn gọi là Trường Giang, rồi ra biển. Từ Vô Tích con thuyền một lá của Khuyển Ưng đi ra biển. Từ đó men theo bờ biển ngược lên, rồi đi vào Lâm Tri.
Khuyển Ưng đánh thuốc mê Thúy Kiều, rồi đưa lên ngựa phóng đi. Có lẽ không có con sông nào từ biển vào đến tận Lâm Tri, hoặc giả bắt cóc xong, phải chạy cho nhanh, nên Khuyển Ưng phải để thuyền ở một nơi nào đó, rồi đi ngựa đến Lâm Tri bắt Thúy Kiều, sau đó mới đưa lên thuyền, men theo bờ biển, xuôi xuống, rồi rẽ vào sông Thái Thương về Vô Tích.




HÌNH 3:
4. Lâm Tri
7. Vô Tích
Con đường biển này cũng chỉ khoảng 800 km, cả đi và về 1600 km. Giả sử đi về mất 10 ngày, thì mỗi ngày đi được 160 km, đi liên tục 24 giờ/ngày, tình ra thuyền có tốc độ là 6,6 km/giờ.

4. TỪ VÔ TÍCH ĐẾN CHÂU THAI
Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư đến ở Chiêu Ẩn Am của sư Giác Duyên được hai tháng thì bị lộ. Giác Duyên gửi nàng Kiều đến chỗ Bạc Bà. Bạc Bà lừa ép Kiều lấy Bạc Hạnh. Bạc Hạnh chở Kiều bằng thuyền đến bán cho hàng viện ở Châu Thai. Thúy Kiều lại rơi vào lầu xanh lần thứ hai.
Thúy Kiều từ nhà Hoạn Thư, đến Chiêu Ẩn Am, rồi đến nhà Bạc Bà, vẫn quanh quẩn trong huyện thành Vô Tích.


HÌNH 4:
Wuxi là Vô Tích (Chấm đỏ)
Bạc Hạnh thuê một con thuyền nhỏ một lá chở Thúy Kiều từ Vô Tích theo Thái Hồ đến kênh Đại Vận Hà, ra sông Trường Giang, ra biển, rồi đi dọc bờ biển xuôi xuống phía nam, qua cửa sông Tiền Đường, rồi rẽ vào sông Linh Giang mà tới Châu Thai.
Sông Trường Giang thời đó vẫn còn nhánh dưới, ngày nay đã bị lấp.
Đoạn đường biển này dài khoảng 600 km.
Chứ không có lý gì lại phải ngược lên sông Hoàng Hà, rồi vòng qua bán đảo Sơn Đông dài tới 1200 km, như một số tài liệu đã đưa ra.



HÌNH 5:
4. Vô Tích
9. Châu Thai



CHÂU THAI (Hình 7)


Thai Châu (Thai Châu thị) là một địa cấp thị tỉnh Chiết Giang Trung Quốc.
THAI CHÂU THỊ (Hình 6)



KÊNH ĐẠI VẬN HÀ VÀ SÔNG TRƯỜNG GIANG (Hình 8):




Thái Hồ: Màu xanh
Đại Vận Hà: Màu sẫm
Sông Trường Giang

Có thể cả Khuyển Ưng và Bạc Hạnh đều đi thuyền theo con đường thủy này. Từ Vô Tich theo Thái Hồ (hồ màu xanh trên hình 8) đến kênh Đại Vận Hà (màu nâu sẫm), ngược lên một đoạn ngắn gặp sông Trường Giang (Dương Tử) rồi theo sông Trường Giang ra cửa biển (hình 8).

5. TỪ CHÂU THAI ĐẾN NAM BÌNH
Thúy Kiều đến lầu xanh Châu Thai được một năm thì gặp Từ Hải. Hai người kết nhau từ cái nhìn đầu tiên:
“2165. Lần thâu gió mát đêm trăng,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi”.
“2177. Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa”.
Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, hai người sống với nhau được nửa năm thì Từ Hải dứt áo ra đi lập nghiệp. Sau 3 năm Từ Hải trở lại, cử 10 vị tướng quân đến đón và đưa dâu như đám cưới một hoàng hậu:
“2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng.
2269. Hỏa bài tiền lộ ruổi mau,
Nam đình nghe động trống chầu đại doanh.
Kéo cờ lũy phát súng thành,
Từ Công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài”.
Không biết Từ Hải cưới và đưa Kiều đến đâu bằng xe rước dâu, đi mất ba ngày đường bộ.
Thông tin về đại bản doanh của Từ Hải ở đâu và sau này ở đây xẩy ra trận chiến giữa Hồ Tôn Hiến và Từ Hải là rất mù mờ.
Nguyễn Du nói Từ Hải đưa Kiều đến “Nam đình” tức là đưa đến triều đình phương
nam. Còn Kim Vân Kiều truyện nói là đưa đến thành Đại Hoang: “- Trình phu
nhân! Đại vương hiện đóng quân ở thành Đại Hoang chờ đợi phu nhân” (Trang 281).
Thành Đại Hoang không biết ở đâu. Chỉ biết triều đình của Từ Hải đặt ở phương Nam. Từ Hải “2450. Năm năm hùng cứ một phương hải tần”“2441. Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà/ Đòi phen gió quét mưa sa/ Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam”.
Từ Hải hùng cứ 5 huyện thành ở miền ven biển Đông là Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông (Quảng Đông là quê hương Từ Hải).
Trong Truyện Kiều Nguyễn Du viết: “Xảy nghe thế giặc đã tan/ Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Chiết Giang”. Vậy cuộc chiến giữa Hồ Tôn Hiến và Từ Hải xẩy ra ở đâu?
Trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện viết là Từ Hải đưa dâu bằng xe ngựa, tức là đi bằng đường bộ, đi trong ba ngày. Châu Thai thuộc tỉnh Phúc Kiến và sau này viên thổ quan đưa Thúy Kiều đi bằng thuyền đến sông Tiền Đường thì Kiều trẫm mình, cũng ở tỉnh Phúc Kiến. Như vậy thành Đại Hoang hay triều đình phương nam phải nằm gần sông Tiền Đường. Ta biết Tân An Giang là đoạn sông ở phía trên đoạn sông Tiền Đường chảy ra vịnh Hàng Châu. Thành Đại Hoang hay đại bản doanh của Từ Hải phải nằm trên đoạn sông Tân An Giang, tức Nam Bình. Phía bắc của Nam Bình giáp với Chiết Giang.
Trong “Kim Vân Kiều truyện” có thêm một chi tiết đáng chú ý. Khi Kim Trọng hỏi Thúc Sinh, Thúc Sinh kể về Từ Hải: “…Rồi ông ta ra đi, trong ba năm trở thành một đám giặc lớn, mới đưa mười vạn quân về đón lệnh tiểu muội làm phu nhân. Quân giặc đến đâu thắng đến đó, hiện đương đóng quân ở vùng Mân, Chiết”.
Vương quốc Mân Việt là một vương quốc cổ đặt tại nơi mà ngày nay là tỉnh Phúc Kiến, miền nam Trung Quốc. Một thành phố cổ bằng đá trên những dãy núi (núi Vũ Di Sơn) ở Phúc Kiến được cho là thủ đô của nước Mân Việt, tên là Đông Dã (Dongye- 東冶). Gần đó là các mộ thể hiện truyền thống tang lễ giống với những lăng mộ của nước Việt ở tỉnh Chiết Giang. Do đó, người ta cho rằng, thành phố này chính là trung tâm của nước Mân Việt xưa. Ngày nay có thành phố cấp huyện Vũ Di Sơn.
Từ Thai Châu đến Tân Anh Giang (Nam Bình, Phúc Kiến) theo đường chim bay khoảng 330 km, Thúy Kiều đi bằng xe ngựa mất 3 ngày, mỗi ngày đi 8 giờ, tốc độ khoảng 13.7 km/giờ.



TỪ CHÂU THAI ĐI NAM BÌNH (Hình 9)
Châu Thai
10. Nam Bình

6. TỪ NAM BÌNH ĐẾN LỀU CỎ GIÁC DUYÊN

Hồ Tôn Hiến ép duyên Thúy Kiều phải lấy viên thổ quan. Viên thổ quan đưa Kiều lên thuyền từ sông Tân An Giang xuôi ra cửa sông Tiền Đường.
“2601. Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Là màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao.
2619. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường”.
Kiều nhớ lời thần mộng của Đạm Tiên, biết đến đây là hết kiếp đoạn trường, nên gieo mình xuống sông Tiền Đường:
“2635. Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang”.
Được Giác Duyên chăng lưới cứu vớt, đưa đến “thảo lư” ngôi nhà lợp cỏ tranh đã dựng từ trước:
“2731. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư”.
Ngôi thảo lư, thảo đường này mặt quay về phía đông, nhìn ra cửa sông Tiền Đường ở chỗ khúc ngoặt, bên tả ngạn sông Tiền Đường (chỗ chấm đỏ), nên có câu:
“2735. Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau.
2697. Đánh tranh chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi”.
Ngôi thảo lư ở tả ngạn sông Tiền Đường, vì Kim Trọng sau này từ Hàng Châu đi đường bộ đến đây làm lễ gọi hồn cho Thúy Kiều.




TỪ NAM BÌNH ĐẾN LỀU CỎ GIÁC DUYÊN (Hình 10)
Nam Bình (Tân An Giang)
      Chấm đỏ: Lều cỏ Giác Duyên
Thúy Kiều đến lều cỏ Giác Duyên và gặp đại gia đình Vương Ông, Vương Bà, Kim Trong, Thúy Vân, Vương Quan là kết thúc hành trình 15 năm lưu lạc phong trần đầy đau thương và khổ ải của một cô gái tài sắc vẹn toàn trong vòng quay của “cơ trời dâu bể đa đoan”.
Hà Nội ngày 18.7.2020
LÊ THANH LONG