Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

HÀNH TRÌNH CỦA THÚY KIỀU TRONG 15 NĂM LƯU LẠC


HÀNH TRÌNH CỦA THÚY KIỀU
TRONG 15 NĂM LƯU LẠC

                                  LÊ THANH LONG

Trong 15 năm lưu lạc giang hồ Thúy Kiều đã đi đến những đâu, bằng những phương tiện nào?
Đó là câu hỏi không dễ giải đáp.
Chúng ta sẽ thử lần tìm lời giải đáp theo hành trình của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

1. TỪ BẮC KINH ĐI LÂM TRI 
Thúy Kiều người Bắc Kinh. Điều này đã được người lại già họ Đô nói ra với Kim Trọng:
“2889. Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Đi mua người ở Bắc Kinh đưa về”.
Khi đến Chiêu Ẩn Am Thúy Kiều nói với Giác Duyên:
“2043. Tiểu thiền quê ở Bắc kinh,
Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu”.
Mã Giám Sinh mua Kiều ở Bắc Kinh rồi đưa nàng về Lâm Tri bằng đường bộ, đi bằng xe ngựa:
“869. Đoạn trường thay lúc phân kỳ,
Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh.
907. Đùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay”.
Cuộc ra đi của Thúy Kiều từ Bắc Kinh đến Lâm tri theo đường bộ, đi trong một tháng tròn:
“919. Những là lạ nước lạ non,
Lâm Tri vừa một tháng tròn đến nơi”.



HÌNH 1:
2. Bắc Kinh
4. Lâm Tri
Quãng đường Từ Bắc kinh đến Lâm Tri theo đường chim bay khoảng 800km, mà đi mất 30 ngày, chứng tỏ đường xá lúc đó rất khó đi, mỗi ngày chỉ đi được khoảng 27 km, đi mỗi ngày 8 tiếng, tốc độ khoảng 3,4 km/ giờ.
Bản đồ đường đi của nàng Kiều Từ Bắc Kinh đến Lâm Tri (Hình 1, vạch đỏ).

2. TÚ BÀ ĐƯA THÚY KIỀU ĐẾN LẦU NGƯNG BÍCH ĐỂ KHÓA XUÂN
Bị Tú Bà đưa đến khóa xuân ở lầu Ngưng Bích ngay cửa sông Tiền Đường. Thúy Kiều làm thơ tả lại quang cảnh ở đây và nỗi lòng mình:
“1047. Buồn trông cửa biển chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
1053. Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồ”i.
Cửa sông Tiền Đường rất rộng, bề ngang tới 100 km. Khi thủy triều lên, dồn ngược lên khúc sông hẹp, có ghềnh thác, gây ra những con sóng cao tới hàng mét, đập vào hai bên bờ ầm ầm:
“2619. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường”.
Ở đây nàng Kiều bị Sở Khanh lừa và bị Tú Bà bắt lại đưa về Lâm Tri. Lầu Ngưng Bích cách Lâm Tri 75 km, vừa đi vừa về là 150 km.
Không biết Lầu Ngưng Bích có phải là nơi Tú Bà đưa khách làng chơi sang trọng và gái lầu xanh đến đây ăn chơi và du lịch hay không?

3. TỪ LÂM TRI ĐẾN VÔ TÍCH 
Thúy Kiều làm gái lầu xanh ở chỗ Tú Bà trong ba năm. Sau đó được Thúc Sinh chuộc ra, ở với nhau được 6 tháng, thì Thúc Ông biết và kiện lên quan phủ, bắt Thúy Kiều phải trở lại lầu xanh. Được quan phủ tác hợp cho lấy Thúc Sinh. Thúy Kiều khuyên Thúc Sinh về thú thực với vợ cả để được lấy Kiều làm lẽ. Thúc Sinh về với Hoạn Thư được một năm, thì Hoạn Thư khuyên Thúc Sinh về Lâm Tri chăm sóc bố:
“1599. Cách năm mây bạc xa xa,
Lâm Tri cũng phải tính mà thần hôn”.
Thúc Sinh vừa đi khỏi thì Hoạn Thư đến nhà mẹ đẻ Hoạn Bà trình bày kế hoạch bắt Thúy Kiều:
“1613. Lâm Tri đường bộ tháng chầy,
Mà đường hải đạo sang ngay thì gần”.
Thúc Sinh từ Vô Tích đi đường bộ phải mất cả tháng, còn nếu đi bằng đường biển thì gần hơn, mất ít ngày hơn, vì có thể đi suốt ngày đêm.
Thúy Kiều bị bọn Khuyển Ưng đến Lâm Tri bắt đưa về Vô Tích bằng đường biển:
“1615. Dọn thuyền lựa mặt gia nhân,
Hãy đem dây xích buộc chân nàng về”.
Trong “Kim Vân Kiều truyện” có chép rằng Hoạn Thư nói với Hoạn bà:
“Con tính đã kỹ lắm. Lâm Tri là đất miền biển, nếu men đường biển mà đi thì chỉ không đầy 10 ngày có thể đi về được một chuyến. Chồng con chưa đi đến nửa đường thì công việc của con đã được xong xuôi” (Trang 216).
Khuyển Ưng thì thận trọng hơn, hai người nói:
“- Cảm ơn tiểu thư giao phó việc nhỏ bé ấy, làm có khó gì. Chúng con sẽ từ Thái Thương ra biển, không đầy năm ngày thì đến Lâm Tri. Chỉ cần dò la chính xác chị ta ở đâu, chúng con sẽ bắt xuống thuyền rồi theo biển mà về. Không quá nửa tháng sẽ có thể đưa nộp cho tiểu thư” (Trang 218).
Vô Tích là một thành phố trực thuộc tỉnh Giang Tô. Vô Tích nằm trên bờ sông Dương Tử (Trường Giang). Thành phố này nằm ở phía Nam của tỉnh Giang Tô, khoảng nửa đường giữa Thượng Hải và Nam Kinh, cách Thượng Hải 128 km về phía Đông và cách Nam Kinh 183 km về phía Tây. Vô Tích được bao bọc bởi nước, với Thái Hồ miền Nam và sông Dương Tử về phía Bắc.


THÀNH PHỐ VÔ TÍCH
Thành Phố Vô Tích (Hình 2)
Vô Tích nằm phía trên Thái Hồ (hồ lớn màu xanh phía dưới) theo kênh Đại Vận Hà đi ngược lên con sông màu xanh (hình 2), có thể là con sông Thái Thương mà Khuyển Ưng nói tới, sông Thái Thương chính là sông Dương Tử hay còn gọi là Trường Giang, rồi ra biển. Từ Vô Tích con thuyền một lá của Khuyển Ưng đi ra biển. Từ đó men theo bờ biển ngược lên, rồi đi vào Lâm Tri.
Khuyển Ưng đánh thuốc mê Thúy Kiều, rồi đưa lên ngựa phóng đi. Có lẽ không có con sông nào từ biển vào đến tận Lâm Tri, hoặc giả bắt cóc xong, phải chạy cho nhanh, nên Khuyển Ưng phải để thuyền ở một nơi nào đó, rồi đi ngựa đến Lâm Tri bắt Thúy Kiều, sau đó mới đưa lên thuyền, men theo bờ biển, xuôi xuống, rồi rẽ vào sông Thái Thương về Vô Tích.




HÌNH 3:
4. Lâm Tri
7. Vô Tích
Con đường biển này cũng chỉ khoảng 800 km, cả đi và về 1600 km. Giả sử đi về mất 10 ngày, thì mỗi ngày đi được 160 km, đi liên tục 24 giờ/ngày, tình ra thuyền có tốc độ là 6,6 km/giờ.

4. TỪ VÔ TÍCH ĐẾN CHÂU THAI
Thúy Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư đến ở Chiêu Ẩn Am của sư Giác Duyên được hai tháng thì bị lộ. Giác Duyên gửi nàng Kiều đến chỗ Bạc Bà. Bạc Bà lừa ép Kiều lấy Bạc Hạnh. Bạc Hạnh chở Kiều bằng thuyền đến bán cho hàng viện ở Châu Thai. Thúy Kiều lại rơi vào lầu xanh lần thứ hai.
Thúy Kiều từ nhà Hoạn Thư, đến Chiêu Ẩn Am, rồi đến nhà Bạc Bà, vẫn quanh quẩn trong huyện thành Vô Tích.


HÌNH 4:
Wuxi là Vô Tích (Chấm đỏ)
Bạc Hạnh thuê một con thuyền nhỏ một lá chở Thúy Kiều từ Vô Tích theo Thái Hồ đến kênh Đại Vận Hà, ra sông Trường Giang, ra biển, rồi đi dọc bờ biển xuôi xuống phía nam, qua cửa sông Tiền Đường, rồi rẽ vào sông Linh Giang mà tới Châu Thai.
Sông Trường Giang thời đó vẫn còn nhánh dưới, ngày nay đã bị lấp.
Đoạn đường biển này dài khoảng 600 km.
Chứ không có lý gì lại phải ngược lên sông Hoàng Hà, rồi vòng qua bán đảo Sơn Đông dài tới 1200 km, như một số tài liệu đã đưa ra.



HÌNH 5:
4. Vô Tích
9. Châu Thai



CHÂU THAI (Hình 7)


Thai Châu (Thai Châu thị) là một địa cấp thị tỉnh Chiết Giang Trung Quốc.
THAI CHÂU THỊ (Hình 6)



KÊNH ĐẠI VẬN HÀ VÀ SÔNG TRƯỜNG GIANG (Hình 8):




Thái Hồ: Màu xanh
Đại Vận Hà: Màu sẫm
Sông Trường Giang

Có thể cả Khuyển Ưng và Bạc Hạnh đều đi thuyền theo con đường thủy này. Từ Vô Tich theo Thái Hồ (hồ màu xanh trên hình 8) đến kênh Đại Vận Hà (màu nâu sẫm), ngược lên một đoạn ngắn gặp sông Trường Giang (Dương Tử) rồi theo sông Trường Giang ra cửa biển (hình 8).

5. TỪ CHÂU THAI ĐẾN NAM BÌNH
Thúy Kiều đến lầu xanh Châu Thai được một năm thì gặp Từ Hải. Hai người kết nhau từ cái nhìn đầu tiên:
“2165. Lần thâu gió mát đêm trăng,
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi”.
“2177. Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
Hai bên cùng liếc hai lòng cùng ưa”.
Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, hai người sống với nhau được nửa năm thì Từ Hải dứt áo ra đi lập nghiệp. Sau 3 năm Từ Hải trở lại, cử 10 vị tướng quân đến đón và đưa dâu như đám cưới một hoàng hậu:
“2265. Sẵn sàng phượng liễn loan nghi,
Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng.
2269. Hỏa bài tiền lộ ruổi mau,
Nam đình nghe động trống chầu đại doanh.
Kéo cờ lũy phát súng thành,
Từ Công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài”.
Không biết Từ Hải cưới và đưa Kiều đến đâu bằng xe rước dâu, đi mất ba ngày đường bộ.
Thông tin về đại bản doanh của Từ Hải ở đâu và sau này ở đây xẩy ra trận chiến giữa Hồ Tôn Hiến và Từ Hải là rất mù mờ.
Nguyễn Du nói Từ Hải đưa Kiều đến “Nam đình” tức là đưa đến triều đình phương
nam. Còn Kim Vân Kiều truyện nói là đưa đến thành Đại Hoang: “- Trình phu
nhân! Đại vương hiện đóng quân ở thành Đại Hoang chờ đợi phu nhân” (Trang 281).
Thành Đại Hoang không biết ở đâu. Chỉ biết triều đình của Từ Hải đặt ở phương Nam. Từ Hải “2450. Năm năm hùng cứ một phương hải tần”“2441. Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà/ Đòi phen gió quét mưa sa/ Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam”.
Từ Hải hùng cứ 5 huyện thành ở miền ven biển Đông là Sơn Đông, Giang Tô, Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông (Quảng Đông là quê hương Từ Hải).
Trong Truyện Kiều Nguyễn Du viết: “Xảy nghe thế giặc đã tan/ Sóng êm Phúc Kiến, lửa tàn Chiết Giang”. Vậy cuộc chiến giữa Hồ Tôn Hiến và Từ Hải xẩy ra ở đâu?
Trong Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện viết là Từ Hải đưa dâu bằng xe ngựa, tức là đi bằng đường bộ, đi trong ba ngày. Châu Thai thuộc tỉnh Phúc Kiến và sau này viên thổ quan đưa Thúy Kiều đi bằng thuyền đến sông Tiền Đường thì Kiều trẫm mình, cũng ở tỉnh Phúc Kiến. Như vậy thành Đại Hoang hay triều đình phương nam phải nằm gần sông Tiền Đường. Ta biết Tân An Giang là đoạn sông ở phía trên đoạn sông Tiền Đường chảy ra vịnh Hàng Châu. Thành Đại Hoang hay đại bản doanh của Từ Hải phải nằm trên đoạn sông Tân An Giang, tức Nam Bình. Phía bắc của Nam Bình giáp với Chiết Giang.
Trong “Kim Vân Kiều truyện” có thêm một chi tiết đáng chú ý. Khi Kim Trọng hỏi Thúc Sinh, Thúc Sinh kể về Từ Hải: “…Rồi ông ta ra đi, trong ba năm trở thành một đám giặc lớn, mới đưa mười vạn quân về đón lệnh tiểu muội làm phu nhân. Quân giặc đến đâu thắng đến đó, hiện đương đóng quân ở vùng Mân, Chiết”.
Vương quốc Mân Việt là một vương quốc cổ đặt tại nơi mà ngày nay là tỉnh Phúc Kiến, miền nam Trung Quốc. Một thành phố cổ bằng đá trên những dãy núi (núi Vũ Di Sơn) ở Phúc Kiến được cho là thủ đô của nước Mân Việt, tên là Đông Dã (Dongye- 東冶). Gần đó là các mộ thể hiện truyền thống tang lễ giống với những lăng mộ của nước Việt ở tỉnh Chiết Giang. Do đó, người ta cho rằng, thành phố này chính là trung tâm của nước Mân Việt xưa. Ngày nay có thành phố cấp huyện Vũ Di Sơn.
Từ Thai Châu đến Tân Anh Giang (Nam Bình, Phúc Kiến) theo đường chim bay khoảng 330 km, Thúy Kiều đi bằng xe ngựa mất 3 ngày, mỗi ngày đi 8 giờ, tốc độ khoảng 13.7 km/giờ.



TỪ CHÂU THAI ĐI NAM BÌNH (Hình 9)
Châu Thai
10. Nam Bình

6. TỪ NAM BÌNH ĐẾN LỀU CỎ GIÁC DUYÊN

Hồ Tôn Hiến ép duyên Thúy Kiều phải lấy viên thổ quan. Viên thổ quan đưa Kiều lên thuyền từ sông Tân An Giang xuôi ra cửa sông Tiền Đường.
“2601. Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
Là màn rủ thấp ngọn đèn khêu cao.
2619. Triều đâu nổi tiếng đùng đùng,
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường”.
Kiều nhớ lời thần mộng của Đạm Tiên, biết đến đây là hết kiếp đoạn trường, nên gieo mình xuống sông Tiền Đường:
“2635. Trông vời con nước mênh mông,
Đem mình gieo xuống giữa dòng trường giang”.
Được Giác Duyên chăng lưới cứu vớt, đưa đến “thảo lư” ngôi nhà lợp cỏ tranh đã dựng từ trước:
“2731. Thấy nhau mừng rỡ trăm bề,
Dọn thuyền mới rước nàng về thảo lư”.
Ngôi thảo lư, thảo đường này mặt quay về phía đông, nhìn ra cửa sông Tiền Đường ở chỗ khúc ngoặt, bên tả ngạn sông Tiền Đường (chỗ chấm đỏ), nên có câu:
“2735. Bốn bề bát ngát mênh mông,
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau.
2697. Đánh tranh chụm nóc thảo đường,
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi”.
Ngôi thảo lư ở tả ngạn sông Tiền Đường, vì Kim Trọng sau này từ Hàng Châu đi đường bộ đến đây làm lễ gọi hồn cho Thúy Kiều.




TỪ NAM BÌNH ĐẾN LỀU CỎ GIÁC DUYÊN (Hình 10)
Nam Bình (Tân An Giang)
      Chấm đỏ: Lều cỏ Giác Duyên
Thúy Kiều đến lều cỏ Giác Duyên và gặp đại gia đình Vương Ông, Vương Bà, Kim Trong, Thúy Vân, Vương Quan là kết thúc hành trình 15 năm lưu lạc phong trần đầy đau thương và khổ ải của một cô gái tài sắc vẹn toàn trong vòng quay của “cơ trời dâu bể đa đoan”.
Hà Nội ngày 18.7.2020
LÊ THANH LONG


Thứ Ba, 30 tháng 6, 2020

MÀN ẨN DỤ TÁI HỒI KIM TRỌNG


MÀN ẨN DỤ TÁI HỒI KIM TRỌNG

Đằng sau màn “Tái hồi Kim Trọng” là Nguyễn Du muốn nói lên điều gì, cái gì ẩn sau đó?
Đã có nhiều người bình luận về màn tái hồi Kim Trọng, mỗi người đứng trên một góc độ khác nhau, chê cũng có, mà khen cũng có.
Từ trước đến nay người đọc Truyện Kiều đều cho rằng màn tái hồi Kim Trọng là gượng ép, Phan Cự Đệ chuyên gia nghiên cứu tiểu thuyết Trung Quốc phê phán khá gay gắt cuốn “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài nhân coi nó là điểm hình của những tác phẩm kém cỏi. Ông nghiêm khắc chê bai “Dựa vào sự việc của Thúy Kiều mà viết cho sáng rõ ra - vốn có thể mở một thế giới khác ngoài lối tiểu thuyết cũ rich in hệt nhau, tiếc rằng lực hút của tác giả quá yếu, không thể mang lại sức sống cho Thúy Kiều. Còn việc Thúy Kiều nhảy xuống sông tự trầm vốn là kết cục rất tự nhiên, có thể viết rất hay, thế mà tác giả lại cố ý xóa nhòa sự thực, cho nàng được người cứu sống, trả lại đoàn viên. Nhân đấy than thở cho kẻ tục trong đời, thật là muốn chữa chạy cũng chữa không nổi. Người xưa tiết hạnh lạ kỳ đến thế, không may lạc vào sách của kẻ tầm thường nên cảnh tượng mới ra như vậy”.
Xuân Diệu đã đưa ra nhận định: “Nguyễn Du đã sử dụng triệt để cuộc đoàn viên, để tính sổ một lần cuối cùng… Nguyễn Du không đọc bản cáo trạng bằng xương bằng thịt, bằng máu của tâm hồn: Đây là nạn nhân còn sống sót của mười lăm năm chúng bay!”.
Nhà nghiên cứu văn học Đỗ Đức Dục lại cho rằng:"Nguyễn Du kết thúc Truyện Kiều có hậu trước hết là tuân theo một phong cách văn học dân tộc thích hợp với tâm lí con người Việt Nam, tránh cái cực đoan trong kịch tính, ưa cái đôn hậu, thuỷ chung”.
Nguyễn Minh Hùng sau một hồi phân tích đưa ra nhân định “Đoạn kết Truyện Kiều, vì thế, xem như một kết thúc chưa phải kết thúc. Bi kịch không kết như vậy. Truyện cổ dân gian cũng không có hồi kết băn khoăn ấy. Đó là cách kết của một tâm hồn giằng xé, bế tắc và đớn đau”.
Đặng Thanh Lê sau một hồi phân tích, đã đưa đến nhận định:
“Nhưng như vậy, phải chăng đó chỉ là một khúc đoạn trường trọng cung đàn bạc mệnh, một kết thúc đầy bi kịch? Đâu là ước mơ và hy vọng, đâu là ánh sáng và ngày mai? Còn chút gì có thể gọi là "có hậu" trong buổi đoàn viên tàn tạ này?
Tóm lại, với màn "Tái hồi Kim Trọng", Nguyễn Du đã vạch rõ những sự thực chua xót của một con người  tuy đã  "cải mệnh » (Đoạn trường rút tên ra) nhưng hạnh phúc toàn vẹn đã bị trôi đi, đồng thời Nguyễn Du cũng vẫn đem đến cho chúng ta một niềm tin vào phẩm chất đẹp đẽ của con người”. “Không, Nguyễn Du có đau đớn và bi quan nhưng Nguyễn Du vẫn có niềm tin và lý tưởng. Giữa "đêm trường dạ tối tăm trời đất" - ngoài phần hạnh phúc đoàn tụ với gia đình của Kiều - Nguyễn Du đã đem đến cho người đọc niềm rung cảm, niềm hy vọng đối với cuộc sống: đấy là niềm tin vào phẩm chất đẹp đẽ trang sáng của con người”.
Trần Đình Sử đưa ra ý kiến: “Trong cái kết này có ba chi tiết quan trọng cần được làm rõ. Đó là việc cô Kiều bỏ chăn gối với chồng là chàng Kim Trọng, bỏ đàn và chia tay với Giac Duyên”. Rồi ông đưa ra nhận định: “Vì muốn nêu gương tiết liệt, cho nên, lẽ ra chuyện hai người từ chối làm tình trong quan hệ vợ chồng, vốn là môt chuyện rất riêng tư giữa hai người, không cần phải cho ai người ngoài biết làm gì. Nhưng vì muốn nêu gương, nên phải nói cho người ngoài biết mới phát huy được vai trò tấm gương. Thế là Kiều nói với Vân cho Vân biết, Vân lại nói cho bố mẹ, bố mẹ lại nói cho em Vương Quan, và cả nhà đều lấy làm lạ lùng và đều khen Thuý Kiều. Vậy là cuộc tình “cầm cờ” là do Kiều muốn nêu gương tiết liệt mà nên vậy. Sau nhiều năm ê chề nhục nhã, giờ được tái sinh, Kiều không muốn sống một cuộc sống bình thường, thế tục, mà lại muốn sống đời của một đấng liệt phụ để cho đời sau ca ngợi, thật là một điều rất đáng tiếc. Theo tôi cái kết này đã huỷ hoại Truyện Kiều không biết bao nhiêu mà kể”.
Việc bỏ đàn hơi khó hiểu. Tài đàn là một trong những cái tài của nhân vật. Bài đàn của Kiều đã bày tỏ tình thương đối với bao nhiêu nữ nhi bạc mệnh thì sao lại bỏ đi? Trong bản đàn tái hợp Nguyễn Du đã gửi vào đó biết bao khát khao tình yêu, tình dục đằm thắm thì sao lại bỏ? Có phải cây đàn và tiếng đàn gây nên tai họa cho Kiều đâu? Vậy đây vẫn là chi tiết khó hiểu.
Phạm Thị Hồng thì có nhận định: “Xét một cách hệ thống, từ đầu đến cuối, khuôn hình ứng xử của Thuý Kiều chịu sự chi phối của xã hội nam quyền với những cung bậc khác nhau”. “Thuý Kiều tự nguyện gánh chịu tất cả khổ nạn do quan niệm trinh tiết mà nam giới đã áp đặt cho người phụ nữ với một niềm xác tín là người đàn ông như Kim Trọng không thể sống với một người phụ nữ thất tiết”.

Bây giờ ta hãy xem quan điểm của Thúy Kiều:
Thúy Kiều rất muốn về quê hương với ngôi mệnh phụ đường đường, nên đã khuyên Từ Hải ra hàng 2477. Bằng nay chụi tiếng vương thần/ Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì/ Công tư vẹn cả hai bề/ Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương/ Cũng ngôi mệnh phụ đường đường/ Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha”. Nên đã bị Hồ Tôn Hiến lừa, kéo theo cái chết của Từ Hải, Kiều đã nói thẳng trước mặt Hồ Tôn Hiến về người anh hùng Từ Hải “Rằng Từ là đấng anh hùng/ Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi/ Tin tôi nên quá nghe lời/ Đem thân bách chiến làm tôi triều đình/ Ngỡ là phú quý phụ vinh/ Ai ngờ một phút tan tành thịt xương”.
Hồ Tôn Hiến một viên quan to của triều đình cũng say sắc đẹp của Thúy Kiều và tán tỉnh muốn Kiều làm thiếp “Dạy rằng hương lửa ba sinh/ Dây loan xin nối cầm lành cho ai?” Thúy Kiều từ chối thẳng thừng “Thưa rằng chút phận lạc loài/ Trong mình nghĩ đã có người thác oan/ Còn chi nữa cánh hoa tàn/ Tơ lòng đã dứt dây đàn tiểu lân/ Rộng thương còn mảnh hồng quần/ Hơi tàn được thấy gốc phần là may?” Thúy Kiều biết mình không thể là thiếp của một viên quan như Hồ Tôn Hiến được.
Thúy Kiều chửi Hồ Tôn Hiến lấy đi mọi thứ của nàng, chỉ để lại cho Kiều một mảnh vải che thân “rộng thương còn mảnh hồng quần” và nàng muốn xin về quê để thoát thân cũng không được và Hồ đã gả nàng cho viên thổ quan để phi tang. Khi được Giác Duyên cứu, Kiều không còn tư tưởng về quê nữa, mà muốn ở lại tu suốt đời, khi gặp lại bố mẹ và Kim Trọng “Đã đem mình bỏ am mây/ Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa/ Mùi thiền đã bén muối dưa/ Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng/ Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi/ Dở dang nào có hay gì/ Đã tu tu trót qua thì thì thôi!”
Vương Ông đem lễ giáo “tam tòng tứ đức” để ép Kiều phải trở về “Ông rằng bỉ thử nhất thì/ Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền/ Phải điều cầu Phật cầu tiên/ Tình kia hiếu nọ ai đền cho đây?”
Thúy Vân trả chồng lại cho chị để xuống làm hàng thiếp “3065. Gặp cơn bình địa ba đào/ Vậy đem duyên chị buộc vào cho em/ Cũng là phận cải duyên kim/ Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao/ Những là rày ước mai ao/ Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!”, “Quả mai ba bảy đương vừa/ Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì!”
Thúy Kiều gạt ngay đi “3077. Dứt lời nàng vội gạt đi/ Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ/ Một lời tuy có ước xưa/ Xét mình dãi gió dầm mưa đã nhiều/ Nói càng hổ thẹn trăm chiều/ Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!”.
Kim Trọng lại đem lễ giáo và lời ước hẹn ra để buộc Kiều phải nghe theo “3085. Một lời đã trót thâm giao/ Dưới dày có đất trên cao có trời/ Dẫu rằng vật đổi sao dời/ Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh/ Duyên kia có phụ chi mình/ Mà toan chia gánh chung tình làm hai”
Thúy Kiều kiên quyết không chịu “3095. Chữ trinh đáng giá nghìn vàng/ Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa/ Thiếp từ ngộ biến đến giờ/ Ong qua bướm lại đã thừ xấu xa/ Bấy chầy gió táp mưa sa/ Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn/ Còn chi là cái hồng nhan/ Đã xong thân thể còn toan nỗi nào/ Nghĩ mình chẳng hổ mình sao/ Dám đem trần cấu dự vào bố kinh/ Đã hay chàng nặng vì tình/ Trông hoa đền chẳng thẹn mình lắm ru/ Từ rày khép cửa phòng thu/ Chẳng tu thì cũng là tu mới là”.
Kim Trọng dùng lý để ép Thúy Kiều phải nghe theo. Kiều không còn cách nào chối cãi được nữa, nên buộc phải nghe theo “3129. Hết lời khôn lẽ chối từ/ Gót đầu nàng những ngắn dài thở than”.
Lúc động phòng hoa chúc Thúy Kiều mới nói hết sự thật lòng mình với Kim Trọng “3145. Nàng rằng phận thiếp đã đành/ Có làm chi nữa cái mình bỏ đi/ Nghĩ chàng nghĩa cũ tình ghi/ Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may/ Riêng lòng đã thẹn lắm thay/ Cũng đà mặt dạn mày dày khó coi/ Những là âu yếm vành ngoài/ Còn toan mở mặt với người cho qua”.
Thúy Kiều nói rất mạnh mẽ, chì chiết Kim Trọng “3153. Lại như những thói người ta/ Vớt hương dưới đất bẻ hoa cuối mùa/ Khéo là dở nhuốc bày trò/ Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi/ Người yêu ta xấu với người/ yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau”.
Kim Trọng phải nói lời thanh minh “3167. Xót người lưu lạc bấy lâu/ Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều/ Thương nhau sinh tử đã liều/ Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình/ Chừng xuân tơ liễu còn xanh/ Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân/ Gương trong chẳng chút bụi trần/ Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm/ Bấy lâu đáy bể mò kim/ Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa/ Ai ngờ lại họp một nhà/ Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm”.
Thúy Kiều nghe xong vui mừng, biết đã đạt được điều mình mong muốn và tránh được sự khinh bỉ của Kim Trọng sau này. Nàng nói lời biết ơn Kim Trọng “3179. Nghe lời sửa áo cài trâm/ Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng/ Thân tàn gạn đục khơi trong/ Là nhờ quân tử khác lòng người ta/ Mấy lời tâm phúc ruột rà/ Tương tri dường ấy mới là tương tri/ Chở che đùm bọc thiếu gì/ Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay”.
Sự đấu tranh của Thúy Kiều có lẽ chỉ đạt được duy nhất một điều là không cho Kim Trọng ngủ, để Kim Trọng khỏi khinh thường và rẻ rúng mình.
Màn tái hồi Kim Trọng là màn đau đớn nhất của Thúy Kiều, Vừa đau xót, vừa tủi hổ, vừa nhục nhã khi phải nói ra mọi sự thật trước mặt Kim Trọng, nó nhục nhã hơn cả khi bị ép buộc ở lầu xanh.
Có người phê phán câu thơ “Tình nhân lại gặp tình nhân/ Hoa xưa ong cũ mấy phân chung tình? Nhưng câu thơ này có lẽ lột tả đúng tâm trạng của Thúy Kiều và Kim Trọng lúc này, chẳng còn gì với nhau nữa. Có thể Kim Trọng còn chút lòng thương xót Thúy Kiều, vì phải rơi vào cảnh ba chìm bảy nổi. Nhưng quan điểm của một vị quan huyện triều đình khó mà không khinh rẻ, coi thường một cô gái lầu xanh, vì vậy Kiều đã nói câu “Còn tình đâu nữa mà thù đấy thôi”.
Màn tái hồi Kim Trọng không phải là gượng ép, mà là một màn ẩn dụ cực hay của Nguyễn Du. Thúy Kiều bị người đời chà đạp lên mọi quyền lợi được có của người phụ nữ. Khi về đến nhà, lại bị gia đình và người tình xưa, dùng lễ giáo “tam tòng tứ đức” o ép buộc phải tuân theo. Kiều bị hai tầng áp bức. Điều này cũng nói lên một thực tế là những cô gái mại dâm khó mà trở lại với đời thường, khi mà quan niệm xưa đã ăn sâu vào tiềm thức con người, sự khinh bỉ của xã hội là một rào cản khó có thể vượt qua.
Tôi chợt nhớ đến bài thơ của Tố Hữu nói về cô gái điếm trên sông Hương, có lẽ bài thơ chỉ là lời động viên của một nhà thơ khi còn trẻ, thiếu thực tế và có vẻ sáo rỗng: 
– Răng không, cô gái trên sông/ Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài/ Thơm như hương nhụy hoa lài/ Trong như nước suối ban mai giữa rừng/ Ngày mai gió mới ngàn phương/ Sẽ đưa cô tới một vườn đầy xuân/ Ngày mai trong nắng trắng ngần/ Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ/ Ngày mai bao lớp đời dơ/ Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay/ Cô ơi tháng rộng ngày dài/Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng”.
Trong chế độ cũ Thúy Kiều là người đáng thương nhất. Nguyễn Du có lẽ là người tri kỷ với Thúy Kiều thì đúng hơn là Kim Trọng là người tri kỷ với Thúy Kiều.
Người đọc tự hỏi không biết Thúy Kiều sẽ sống thế nào đây với Kim Trọng? Nàng hạnh phúc hay đau buồn? Đàn thì đã cuốn dây, tâm hồn thì còn gì nữa để mà làm thơ? Tài năng và sắc đẹp của nàng bây giờ là vô ích, chẳng để làm gì. Nàng sẽ làm gì cho qua ngày đoạn tháng? Nàng chỉ còn mỗi việc là uống rượu, ngắm trăng và chơi cờ “khi chén rượu khi cuộc cờ/ khi xem hoa nở khi chờ trăng lên”. Cái thú vui này là cái thú vui của đàn ông. Nàng Kiều của chúng ta coi như đã chết rồi!
Hà Nội ngày 1.7.2020

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2020

TÂM SỰ NÀNG VÂN



                               LÊ THANH LONG

Nghĩ thương chị lỡ con đò
Mười lăm năm biết bây giờ ở đâu
Chị ơi đời chị khổ đau
Làm sao cho chị thoát mầu oan khiên

“Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên”
“Chị thương kẻ khuất”, chẳng “quên người còn”
“Mấp mô số phận vuông tròn”
Đất không thể nhốt tâm hồn chị yêu

Là em nghĩ vậy, chị Kiều
Đời em thuận, “chị ba chiều bão giông”
“Con đò đời chị về không”
“Chở theo tiếng” sóng trên “sông Tiền Đường”

Biết bao oán giận, yêu thương
Chiếc vành còn thấm mùi hương hẹn hò
Đời em thuận gió không ngờ
Mà thương cho chị bây giờ gian truân

Chàng Kim tìm khắp xa gần
Máu theo nước mắt bao lần ngất xiêu
Cả đời chị chẳng được yêu
Nghĩ cho em chị, Thúy Kiều chị ơi!

Vầng trăng ai xẻ làm đôi,
Để cho chị suốt một đời đau thương.

LÊ THANH LONG

Phỏng theo bài thơ “Tâm sự nàng Thúy Vân” của Trương Nam Hương.

Tâm sự nàng Thuý Vân

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để hồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Ðời em thể thắt một vòng oan khiên

Sụt sùi ướt cỏ Ðạm Tiên
Chị thương kẻ khuất, đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Ðất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!

Là em nói vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Ðường

Chị nhiều hờn giận, yêu thương
Vầng trăng còn lấm mùi hương hẹn hò
Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim

Em thành vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Giấu đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em biết khi nào được yêu!

TRƯƠNG NAM HƯƠNG

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2020

TÌNH YÊU CỦA CẶP ĐÔI THÚY VÂN - KIM TRỌNG



                                                              LÊ THANH LONG

Trương Nam Hương có bài thơ “Tâm sự nàng Thúy Vân” viết rất hay. Trong bài thơ có bốn câu đóng chốt quan điểm của Trương Nam Hương: Chị yêu lệ chảy đã đành/ Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim vàGiấu đầy đến nỗi khát khao/ Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?”
Rất nhiều bài viết khen ngợi và bình bài thơ này theo quan điểm của Trương Nam Hương. Tôi đã xem hầu hết các bài viết về vấn đề này, nhưng thấy hơi buồn, vì không thấy có một phản biện nào theo hướng khác.
Tôi viết bài này để minh oan cho Kim Trọng, cho Thúy Vân, cho Thúy Kiều và cho cả Truyện Kiều Nguyễn Du.
Tôi không có ý tranh luận gì với Trương Nam Hương và những người đã viết trước đó về vấn đề này, đó là quyền tự do của mỗi người, mỗi người có một quan điểm riêng, một cách nhìn riêng.
Tôi không đứng trên góc độ tư tưởng của người ngày nay mà xét chuyện ngày xưa, mà đứng trên góc độ, tư tưởng, quan điểm thực tế của người thời xưa, để xem xét chuyện ngày xưa.
Bài viết của chúng tôi là một góc nhìn khác, một cách nhìn khác về vấn đề này.

Sau khi lo xong việc bán mình lấy tiền cứu cha và em, trước khi ra đi, Thúy Kiều còn một việc không thể không làm, đó là trả nghĩa cho chàng Kim.
Sự đời éo le, Thúy Kiều bán mình chuộc cha, đi lấy người khác, để cứu cha và em, nhưng lại mắc vào một lỗi lớn là phản bội lời hứa, mặc dù đã hứa như đinh đóng cột với Kim Trọng “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai”, suốt đời không lấy ai, trước khi Kim Trọng về hộ tang chú. Vì vậy Thúy Kiều vô cùng ân hận, muốn em mình Thúy Vân và cha trả nghĩa cho Kim Trọng. Thúy Kiều vô cùng đau đớn “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan”. Thúy Kiều không sung sướng gì khi phải nhờ cậy em “Hở môi ra cũng thẹn thùng/ Để lòng thì phụ tấm lòng với ai”. Để việc nhờ cậy của mình nhất định phải thành công, trước khi nói, Thúy Kiều phải quỳ xuống lạy em mình Thúy Vân “Cậy em, em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Một màn trao duyên cực kỳ cảm động, đau xót với cả Thúy Vân và Thúy Kiều. Chúng ta không thể không chia sẻ nỗi đau xót đến cùng cực của cả hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều lúc này. Ngày xưa cái nghĩa cử phải trả nghĩa nó cao quý, đẹp đẽ hơn cái cá nhân nhỏ bé rất nhiều, Thúy Kiều đã nói với Thúy Vân “Chị dù thịt nát xương mòn/ Ngậm cười chin suối vẫn còn thơm lây”. Thúy Kiều không phải không đau xót, không tiếc khi phải nhường người yêu cho em “Mai sau dù có bao giờ/ Đốt lò hương ấy so tơ phím này/ Trông ra ngọn cỏ lá cây/ Thấy hiu hiu gió thì hay chị về/ Hồn còn mang nặng lời thề/ Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai/ Dạ đài cách mặt khuất lời/ Rưới xin chén nước cho người thác oan”.
Thúy Kiều nói thẳng với Thúy Vân “Giữa đường đứt gánh tương tư/ Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em”. Thúy Kiều nói thẳng với Thúy Vân “keo loan chắp mối tơ thừa” mối tơ duyên thừa của Thúy Kiều để lại, nhưng Thúy Kiều không ép buộc Thúy Vân, mà nói “mặc em” tự quyết định. Không ai ép buộc Thúy Vân phải lấy Kim Trọng, Thúy Vân hoàn toàn có thể từ chối.
Thúy Vân nhận cái lạy của Thúy Kiều và những đoạn sau đó im lặng, không nói gì, tức là đã tự nguyện chấp nhận lời đề nghị của Thúy Kiều. Hoặc giả Thúy Vân không thể nói gì trong trường hợp này.
Ở đây cũng phải nói thêm. Người thời xưa, việc gả chồng cho con gái là do bố mẹ quyết định, chứ người con gái không được chọn, không được tự chọn. Vương Ông đã nói với Thúy Kiều “Nay cha làm lỗi duyên mày/ Thôi thì nỗi ấy sau này đã em”. Thúy Vân không nói một lời nào trong suốt màn trao duyên, vì Thúy Vân không có quyền tự quyết định việc này. Ngày xưa người ta đi “hỏi vợ”, tức là hỏi xem bố mẹ và người con gái ấy có đồng ý lấy mình không, rồi hai người mới được đi lại, tìm hiểu nhau, Chứ không như bây giờ yêu nhau rồi, trước khi cưới mới đi “hỏi vợ”, không biết lúc này hỏi để làm gì, việc “ăn hỏi” ngày nay chỉ là hình thức.
Sau này Kim Trọng đã cứu cả nhà Thúy Vân thoát khỏi cảnh nghèo túng và nhờ vậy Vương Quan mới được học hành đỗ dạt. Thúy Vân và cả nhà Thúy Vân phải hàm ơn Kim Trọng rất nhiều.
Cả nhà Thúy vân đang trong cảnh nghèo túng “Nhà tranh vách đất tả tơi/ Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa/ Một sân đất cỏ dầm mưa”. Khi gặp Kim Trọng, Kim Trọng đã đón cả nhà Vương Ông về thay Kiều chăm sóc “Vội về sửa chốn vườn hoa/ Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang/ Thần hôn chăm sóc lẽ thường/ Dưỡng thân thay tấm lòng nàng ngày xưa”.
Theo ý kiến chúng tôi Thúy Kiều mất mọi thứ, nhưng Thúy Vân thì được mọi thứ. Được chồng đẹp trai, hào hoa phong nhã, con nhà trâm anh thế phiệt có truyền thống văn chương “Nền phú quý, bậc tài danh/ Văn chương nết đất, thông minh tính trời/ Thiên tư tài mạo tót vời/ Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”, đi đến đâu sáng bừng lên đến đó “Hài văn lần bước dặm xanh/ Một vùng như thể cây quỳnh cành dao”.
Sắc đẹp thúy Vân xứng tầm với Kim Trọng, người con gái có đức tính trong sạch như tuyết trắng “tuyết tinh thần”, đi đứng, ăn nói trang trọng “Vân xem trang trọng khác vời/ Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang/ Hoa cười ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.
Thúy Vân không yêu, không lấy Kim Trọng thì còn lấy ai đây để hơn được Kim Trọng. Kim Trọng không yêu không lấy Thúy Vân thì còn lấy ai đây để hơn được Thúy Vân (người đứng thứ hai (á hậu) chỉ sau Thúy Kiều (hoa hậu; số 1 về tài sắc).
Không có chứng cứ nào để nói Thúy Vân và Kim Trọng không yêu nhau, cặp đôi như thế không yêu nhau mới là điều lạ. Cặp đôi này không cần ai mối lái, họ cũng sẽ đến với nhau và lấy nhau. Thúy Vân lấy được chồng làm quan, đứng đắn, tài giỏi như thế, Thúy Vân còn mơ ước điều gì hơn thế. Nói Kim Trọng không có tình yêu với Thúy Vân và Thúy vân không yêu Kim Trọng chỉ là suy diễn theo quan điểm, tư tưởng người thời nay.
Ngày xưa các quan lại giầu có thường lấy nhiều vợ. Nguyễn Nghiễm cha Nguyễn Du lấy tới 8 bà vợ. Kim Trọng chỉ lấy một mình Thúy Vân. Điều đó nói lên gì?! Chẳng phải là Kim Trọng rất yêu Thúy Vân đó sao! Tình nghĩa vợ chồng thời xưa sâu nặng, bền vững.
Không có bất cứ lý do gì để hai người Thúy Vân - Kim Trọng không đến với nhau, không yêu nhau, không lấy nhau, cơ trời đã tác hợp cho họ nên duyên vợ chồng.
Các bạn nam trẻ, nếu bạn ở vào địa vị như Kim Trọng, bạn có yêu Thúy Vân không? Các ban nữ trẻ, nếu bạn ở vào địa vị như Thúy Vân, bạn có yêu Kim Trọng không?.
Lấy đoạn Nguyễn Du viết về Kim Trọng nhớ thương Kiều, sau khi biết tin Kiều phải bán mình chuộc cha, để nói rằng Kim Trọng lúc nào cũng tưởng nhớ Kiều là không thuyết phục, không đúng sự thật trong Truyện Kiều.
Kim Trọng đau đơn, xót thương Thúy Kiều đến độ nước mắt chảy ra pha máu hồng “Vật mình vẫy gió tuôn mưa/ Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai/ Đau đòi đoạn/ Ngất đòi thôi/ Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê’“Ruột tằm ngày một héo hon/ Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve/ Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê/ Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”. Vương Ông khuyên giải mấy cũng không được “Quá thương chút nghĩa đèo bòng/ Nghìn vàng thân ấy thì hòng bỏ sao/ Dỗ dành khuyên giải trăm chiều/ Lửa phiền khôn dập càng khêu mối phiền”.
Cha Kim Trọng lo sợ cho tính mạng Kim Trọng “Xuân huyên lo sợ xiết bao/ Quá ra khi đến thế nào mà hay!”. Ông đưa ra một giải pháp tuyệt vời là cưới Thúy Vân cho Kim Trọng “Vội vàng sắm sửa chọn ngày/ Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng/ Người yểu điệu, kẻ văn chương/ Trai tài gái sắc xuân đương vừa thì”.
Tuy vậy nỗi đau đớn thương xót Thúy Kiều cũng không một lúc mà quên được “Tuy rằng vui chữ vu quy/ Vui này đã cất sầu kia được nào!/ Khi ăn ở lúc ra vào/ Càng âu duyên mới càng dào tình xưa/ Nỗi nàng nhớ đến bao giờ/ Tuôn châu đòi trận vò tơ trăm vòng/ Có khi vắng vẻ thư phòng/ Đốt lò hương, giở phím đồng ngày xưa/ Bẻ bai rủ rỉ tiếng tơ/ Trầm bay lạt khói gió đưa lay rèm/ Dường như bên chái trước thềm/ Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng/ Bởi lòng tạc đá ghi vàng/Tưởng nàng nên lại thấy nàng về đây”.
Đó thể hiện sự thương nhớ của Kim Trọng thời kỳ đầu, khi biết tin Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha. Điều đó chứng tỏ Kim Trọng là con người chân tình, có tình cảm sâu nặng. Con người như thế không thể nào không yêu Thúy Vân, khi lấy nàng làm vợ. Điều đó cũng chứng tỏ sự miêu tả tâm lý con người tuyệt vời của Nguyễn Du.
Sau đó nỗi thương cảm của Kim trọng cũng nguôi ngoai dần, chàng chăm chỉ học hành và thi đỗ làm quan “Cửa trời rộng mở đường mây/ Hoa chào ngõ hạnh hương bay dặm phần”.
Nguyễn Du ca ngợi cặp đôi Kim Trọng Thúy Kiều “Một nhà phúc lộc gồm hai/ Thiên niên dằng dặc quan giai lần lần/ Thừa gia chẳng hết nàng Vân/ Một cây cù mộc một sân quế hòe/ Phong lưu phú quý ai bì/ Vầy xuân một cửa để bia muôn đời”.
Kim Trọng và Thúy Vân đã đưa dòng họ Kim ngày càng phát đạt, trường tồn mãi mãi, là tấm gương sáng cho muôn đời sau và trở thành cụ Tổ nhiều đời của dòng họ.
                                                       Hà Nội ngày 28.5.2020
                                                         LÊ THANH LONG