Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

Nhịp điệu trong thơ 7 chữ và thơ 8 chữ

LÊ THANH LONG


Nhịp điệu trong thơ bảy chữ và thơ tám chữ

Tôi đã tìm đọc, nhưng chưa tìm thấy có bài viết nào nghiên cứu  nhịp điệu các loại thơ bảy chữ và thơ tám chữ. Muốn nghiên cứu một cách bài bản lịch sử phát triển của nó, thì phải có nguồn tư liệu phong phú trong một khoảng thời gian dài. Do đó trong bài viết này, tôi chỉ đi vào những nét khái quát cơ bản về nhịp điệu trong thơ bảy chữ và thơ tám chữ, coi như đây là bài nghiên cứu bước đầu về vấn đề này.
Trước tiên chúng ta phải xem xét nhịp điệu trong thơ Đường luật. Vì thơ Đường luật đã có từ rất lâu rồi, và ảnh hưởng đến các nhà thơ Việt Nam trong một thời gian khá dài.
Thơ Đường luật có nhịp 4/3. Chúng ta hãy đọc hai câu trong bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẽo / nước trong veo
Một chiếc cần câu / bé tẻo teo
Hay như trong bài Hoài cổ của Bà Huyện Thanh Quan:
Lối xưa xe ngựa / hồn thu thảo
Ngõ cũ lâu đài / bóng tịch dương
Tất cả các câu thơ bảy chữ trong thơ Đường luật đều theo nhịp 4/3, không có ngoại lệ. Đường thi tuyệt cú cũng có nhịp 4/3 như vậy.
Sau này, các loại hình thơ bốn câu ba vần, không theo niêm, luật, đối…  như thơ Đường luật, nhưng nhịp điệu vẫn là nhịp 4/3 như thơ Đường luật. Ta hãy đọc khổ thơ đầu trong bài thơ Còn chơi theo điệu Lộng hoàn, dài 15 khổ, khá nổi tiếng của Tản Đà:
Ai đã hay đâu / tớ chán đời
Đời chưa chán tớ / tớ còn chơi
Chơi cho thật chán / cho đời chán,
Đời chán nhau thời / tớ sẽ thôi.
Hoặc thơ bốn câu hai vần cách. Ta hãy đọc một  khổ 4 câu trong bài Xuân của Chế Lan Viên:
Ai đâu trở lại / mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi / những lá vàng?
Với của hao tươi / muôn cánh rã,
Về đây, đem chắn / nẻo xuân sang!
Hoặc trong bài Tràng Giang của Huy Cận:
Sóng gợn tràng giang/ buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái/ nước song song
Thuyền về nước lại / sầu trăm ngả
Củi một cành khô / lạc mấy giòng.
Hay như khổ thơ bốn câu hai vần bằng, trong bài Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử:
Trăng nằm sóng soài / trên cành liễu
Đợi gió đông về / để lả lơi
Hoa lá ngây tình / không muốn động
Lòng em hồi hộp / chị Hằng ơi…
    Hầu hết thơ tình của Xuân Diệu là thơ 7 chữ, nhịp 4/3, chia thành từng khổ 4 câu, như bài Trăng:
Trong vườn đêm ấy / nhiều trăng quá
Ánh trăng tuôn đầy / các lối đi
Tôi với người yêu / qua nhè nhẹ…
Im lìm không dám / nói năng chi.
Cũng như Xuân Diệu, thơ 7 chữ của Nguyễn Bính có nhịp 4/3, theo lối thơ Đường luật, ví dụ bài Cô lái đò:
Nhưng rồi người khách / tình xuân ấy
Đi biệt không về / với bến sông
Đã mấy lần  xuân / trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái / mỏi mòn trông…
Không giống như thơ bảy chữ, được biến cải từ thơ Đường luật, có nhịp 4/3, có một loại hình thơ hoàn toàn là sáng tạo của Việt Nam. Đó là loại hình thơ bảy chữ theo nhịp điệu 3/4. Trước tiên phải kể đến thơ song thất lục bát, hai câu thất của song thất lục bát, chữ thứ bảy của câu thất đầu có vần trắc, chữ thứ bảy của câu thất thứ hai có vần bằng, hai câu thất này có nhịp 3/4:
Thuở trời đất / nổi cơn gió bụi
Khách má hồng / nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.
Song thất lục bát nở rộ vào thế kỷ 18 với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều…
Tiếp theo là sự phát triển của các loại hình thơ bảy chữ, tám chữ có nhịp điệu 3/4. Khó mà biết chính xác, các loại hình thơ này được phát triển vào thời gian nào. Thơ bảy chữ nhịp 4/3 phát triển vào khoảng thời kì Tản Đà, Hàn Mặc Tử, Thế lữ, Xuân Diệu… Thời kì này vẫn chưa có thơ bảy chữ nhịp 3/4. Đến thời kì thơ mới 1930 Xuân Diệu, Thế lữ, chế Lan Viên… vẫn làm thơ bảy chữ, mỗi khổ 4 câu ba vần bằng, nhịp 4/3.

Thơ bảy chữ nhịp 3/4:

Thơ bảy chữ, nhịp 3/4, không chia thành từng khổ 4 câu, mà liên hoàn nối tiếp nhau, có thể kéo dài vô tận (cũng có người chia thành từng khổ 4 câu). Chữ thứ bảy của câu đầu tiên có thể là vần trắc hoặc vần bằng. Nếu chữ  thứ bảy của câu đầu tiên là vần trắc thì chữ cuối của câu thứ hai và thứ ba là vần bằng và tiếp theo chữ cuối của hai câu thứ tư và thứ năm là vẫn trắc:
Bài Trường Sơn đông – Trường Sơn tây của Phạm Tiến Duật, có những câu thơ 7 chữ, nhịp 3/4:
Cùng mắc võng / trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở / hai đầu xa thẳm
Đường ra trận / mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông / nhớ Trường Sơn tây.

Một dãy núi / mà hai màu mây…
Có điều rất lạ, là Xuân Diệu không làm thơ bảy chữ nhịp 3/4, mà chỉ làm thơ bảy chữ từng khổ 4 câu, ba vần bằng, nhịp 4/3 theo nhịp thơ Đường luật.
Thơ bảy chữ, mỗi khổ 4 câu, ba vần bằng, cứ lặp lại đều đều làm cho người đọc thấy nhàm chán. Vì vậy các nhà thơ phải thay đổi hình thức thể hiện. Sự thay đổi nhịp điệu trong thơ bảy chữ từ nhịp 4/3 sang nhịp 3/4 là một sự sáng tạo đáng trân trọng của các nhà thơ. Nhịp điệu trong thơ đổi khác, sẽ làm cho thơ tươi mới hơn. Bây giờ không phải là từng khổ thơ bốn câu, mà là liên hoàn các câu thơ 7 chữ nối tiếp nhau, có thể kéo dài vô tận. Các vần bằng trắc kế tiếp, luân phiên nhau, làm cho nhạc điệu bài thơ lúc lên bổng, lúc xuống trầm, thanh điệu đa dạng, khả năng diễn đạt đa dạng hơn, làm cho người đọc không thấy nhàm chán.
Có lẽ, sự thay đổi nhịp điệu thơ bảy chữ từ 4/3 sang 3/4 bắt nguồn từ thơ song thất lục bát. Thời gian ra đời của loại hình thơ này khó mà xác định được chính xác. Cho đến nay, cũng chưa biết ai là người làm loại thơ này đầu tiên. Chỉ có thể phỏng đoán, loại thơ này ra đời vào khoảng nửa sau thế kỉ 20, tức là cách nay khoảng năm, sáu chục năm. Thời gian như vậy không phải là lâu, cho việc phát triển một loại hình thơ mới.

Thơ tám chữ nhịp 3/5

Giống như thơ 7 chữ nhịp 3/4, thơ 8 chữ, nhịp 3/5, là một sáng tạo mới của các nhà thơ Việt Nam. Vần rơi vào chữ thứ 8 mỗi câu. Nếu chữ thứ 8 câu đầu là vần trắc, thì chữ thứ 8 của hai câu tiếp theo (câu 2 và câu 3) là vần bằng, và hai chữ này vần với nhau. Chữ thứ 8 của hai câu kế tiếp vần với nhau và là vần trắc (câu 4 và câu 5). Cứ thế vần chuyển từ bằng sang trắc rồi lại bằng, luân phiên. Chúng ta hãy đọc bài thơ Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, rất điển hình cho loại thơ này:
Quê hương tôi / có con sông xanh biếc
Nước gương trong / soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi / là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống / lòng sông lấp loáng
Chẳng biết nước / có giữ ngày giữ tháng
Giữ bao nhiêu / kỷ niệm của dòng trôi
Hỡi con sông / đã tắm cả đời tôi
Tôi giữ mãi / mối tình mới mẻ…
Ngoài thơ 7 chữ, nhịp 4/3 cổ điển, Xuân Diệu cũng làm thơ 8 chữ, nhịp 3/5. Nhưng ông không viết liên hoàn như Tế Hanh, mà lại chia thành từng đoạn, như trong bài Tương tư chiều:
Bữa nay lạnh / mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em / em hỡi! Anh nhớ em,
Không gì buồn / bằng những buổi chiều êm
Mà ánh sáng / đều hòa cùng bóng tối.
Gió lướt thướt / kéo mình qua cỏ rối;
Vài miếng đêm / u uất lẩn trong cành;

Mây theo chim / về dãy núi xa xanh…
Trong bài Tình thứ nhất, Xuân Diệu làm theo thể thơ 8 chữ, nhịp 3/5, nhưng lại quay về với các khổ thơ 4 câu, vần cách theo kiểu cũ:
Thư thì mỏng / như suốt đời mộng ảo,
Tình thì buồn / như tất cả chia ly.
Giấy phong kỹ / mang thầm trong túi áo,
Mãi trăm lần / viết lại mới đưa đi…
Xuân Diệu có rất ít bài thơ 8 chữ, nhịp 3/5. Hầu hết thơ ông là thơ 7 chữ, nhịp 4/3, theo kiểu cũ.
Cũng như Xuân Diệu, Nguyễn Bính chỉ có lác đác mấy bài thơ 8 chữ, nhịp 3/5. Điển hình là bài Những người của ngày mai, thơ 8 chữ, nhịp 3/5, viết vào khoảng năm 1949:
Ở chòi hẹp / nhưng hồn trùm vũ trụ
Trái tim đau / nhưng thương cả loài người
Đã nhiều hôm / không thấy bóng mặt trời
Bởi làm việc / liên miên và bí mật
Mắt quầng lại / đêm đêm ròng rã thức
Da xanh xao / vì muỗi thật là nhiều
Này của riêng / soát lại có bao nhiêu…
Bài thơ Chuyện một con đường mòn của Anh Ngọc, thơ 8 chữ, có nhịp 3/5, nhưng câu đầu tiên 9 chữ, nhịp 4 /5, câu thứ 6 là thơ 7 chữ, nhịp 3 /4:
Khi tôi sinh ra / con đường đã có rồi
Trôi lặng lẽ / như một dòng nước mát
Chỗ bờ tre / ông tôi ngồi chẻ lạt
Dáng lưng còng / tạc xuống tháng năm
Chuyện gợi về / sau ánh mắt xa xăm
Sống lại chàng / lực điền sôi nổi
Đường chứng kiến / mối tình ông bà nội
Có hoa xoan / hoa khế rụng trên đâu…
Anh Ngọc không làm thơ thuần chất 8 chữ, nhịp 3/5, trong một bài có cả thơ 7 chữ, 8 chữ, nhịp 3/4, 3/5, 4/4…
Bài thơ Tản mạn thời tôi sống của Nguyễn Trọng Tạo, đa số là thơ 8 chữ, nhịp 3/5, nhưng lẫn cả nhịp 4/4:
Những bông hoa / vẫn cứ nở đúng mùa
Nhưng màu hoa / thời tôi thì có khác
Xe đến công trường / bay mù bụi cát
Màu hoa thường / lấm bụi suốt mùa khô…
Trần Nhuận Minh ít làm thơ 8 chữ, nhịp 3/5, chỉ có bài Đà Lạt, Chiều xanh, Lời từ biệt, sau đây là một đoạn trong bài Thơ tình ngày không em:
Nếu biết rằng / sẽ chẳng gặp lại nhau
Anh đã chẳng / buộc em bao tội lỗi
Em đứng lặng. / Mặt úp vào bóng tối
Khổ thân em / có nói được gì đâu

Nếu biết rằng / sẽ chẳng gặp lại nhau…
Các nhà thơ đã đưa thơ 7 chữ, 8 chữ vào trong thơ tự do, vì vậy nhịp điệu trong thơ 7 chữ, 8 chữ không còn thuần nhất nữa, mà có thể là nhịp 4/3, 3/4, 3/5, 4/4… Ngày nay khi đọc thơ tự do, ta vẫn gặp bóng dáng của những loại hình thơ và nhịp điệu thơ như đã nói ở trên.
Sự phát triển và sáng tạo của thơ 7 chữ, 8 chữ theo nhịp điệu 3/4, 3/5 là một bước tiến đáng kể, trên con đường tìm kiếm cái mới của loại hình thơ dân tộc, rất đáng trân trọng. Có thể, điều này sẽ đưa đến những khác biệt, những nét riêng của thơ tự do Việt Nam so với thơ các nước khác. Tìm kiếm cái mới, ngay trong lòng văn hóa dân tộc, không phải là ý tưởng không đáng quan tâm.




Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Những mảnh đời trôi nổi


Những mảnh đời trôi nổi

                                                            Truyện ngắn của Lê Thanh Long

Ở dưới chân đường cao tốc trên cao, gần bán đảo Linh Đàm, có một ông già bán vé số. Ông năm nay chắc cũng đã 75, nhưng da còn săn chắc, tóc mới lưa thưa bạc. Ông có một cái bàn xếp nhỏ, đặt cạnh trụ đường, để tránh mưa nắng. Không biết ông đã bán vé số bao lâu rồi. Dân ở quanh đây vẫn quen gọi ông là ông Thân. Đúng như tên ông, ông là người thân thiện với mọi người, hiền lành, hay vui vẻ trò chuyện. Ông biết đủ mọi chuyện trên đời, giọng nói nhỏ nhẹ, kể chuyện có duyên. Chuyện Đông Tây kim cổ ông đều biết. Những người về hưu, hay đến mua vé số, thường ngồi trò chuyện với ông hàng giờ. Nhất là khi nghe ông bình Kiều thì không dứt ra được. Nhưng tuyệt nhiên không bao giờ ông nói về mình. Có người gặng hỏi ông, ông chỉ cười, cái cười phảng phất nét chua chát, từng trải. Và thường đánh trống lảng, kể sang chuyện khác.
Người xung quanh chỉ biết ông với cái tên dân giã là người vô gia cư. Ngày bán vé số. Tối ông ngủ ở ống cống bêtông. Những cái ống cống bêtông lớn đường kính cũng đến 1,5 m, dài tới 2m của một công ty xây dựng nào đó để ở đây đã lâu rồi. Ông lấy bìa cactông che ở hai đầu. Bên trong có một cái gối mây, tấm chăn đơn và đặc biệt có một bộ ấm chén pha trà bằng sành nhỏ xíu, mà ông rất quý. Ở một cái ống cống bên cạnh, ông để vài cái nồi con, mấy cái bát, mấy cái đĩa, một cái phích nhỏ và một cái bếp dầu, mà ông xin được của bạn mua vé số bỏ đi.
Tối đến, sau khi ăn cơm, uống trà, ông thường đặt cái bàn bán vé số dưới ánh đèn đường, hí hoáy ngồi viết. Chẳng ai biết ông viết gì.
Cuộc sống của ông bán vé số cứ đơn điệu trôi đi. Và cuộc đời bí ẩn của ông, chắc rồi một ngày cũng sẽ lẫn vào với cát bụi, cùng với cái phận nghèo. Nếu không có một sự tình cờ nho nhỏ.
Đó là vào một đêm mưa, cuối tháng chín âm lịch. Lúc đó là khoảng 11 giờ đêm, trời hơi se lạnh. Ông đang định đi ngủ, thì thấy từ đằng xa một bóng đàn bà, vai mang một cái bị cói, khoác manh áo mưa đã cũ, lui cui, thất thểu trên đường. Bước đi thập thững, hình như bà đã đi bộ nhiều giờ liền.
Ông cũng không lạ lẫm gì với những mảnh đời phiêu bạt ở cái thành phố màu hồng, rực rỡ ánh đèn và nhà cao tầng này. Ông định quay vào cái căn nhà ống cống của ông. Thì qua làn mưa bụi, mờ ảo, của ánh đèn đường vàng vọt, hắt xuống mặt đường, ông thấy cái bóng đàn bà trượt ngã xuống đường, chỉ cách chỗ ông chưa đầy chục mét. Ông vội vàng chạy đến. Đến gần, ông nhận ra, đó là một cụ bà, chắc cũng xấp xỉ tuổi ông, đầu bạc trắng. Ông đỡ bà cụ dậy, rồi dìu vào cái căn nhà cống của ông.
Bà cụ gần như kiệt sức, mặt đỏ gay, người nóng bừng bừng. Là người từng trải, ông biết bà cụ đang bị cảm sốt. Ông vội lấy thuốc cảm cho bà cụ uống, những viên thuốc ông vẫn giắt trong người, phòng bị cho cái sức khỏe của tuổi già, chợt nắng chợt mưa thất thường. Ông vội nấu cho bà cụ một bát cháo hành, đập vào một quả trứng gà. Chắc từ sáng đến giờ bà cụ chưa ăn gì, nên mặc dù đang sốt hầm hập, bà vẫn ăn hết bát cháo. Ông để bà cụ nằm nghỉ ở cái nhà ống cống của mình. Ông sang cái ống cống bên cạnh, thiết kế cho mình một căn nhà mới. Đêm rồi cũng dần trôi qua.
Ông thường thức dậy vào lúc 5 giờ sáng. Ông tập vài động tác thể dục. Ông biết ở cái tuổi của ông và trong hoàn cảnh như ông, sức khỏe là cái quý giá nhất. Ông cũng không hiểu, làm sao ông có thể trụ vững ở đây trong ngần ấy năm. Bữa sáng của ông thật đơn giản, một cái bánh mì với mấy miếng thịt kho. Thịt lợn bây giờ chỉ đắt hơn rau một tí, nên bữa cơm đạm bạc của ông vẫn có chút thịt, chút cá, còn rau ông trồng ở mấy bãi đất hoang, cũng tạm đủ.
Ông đi chợ, mua chút thịt, nấu cho bà bạn mới một bát cháo thịt. Bà đã ngồi dậy được, ăn bát cháo ngon lành. Bà hồi phục rất nhanh, hai hôm sau gần như đã khỏi hẳn. Trời phú cho những người có hoàn cảnh éo le, một sức sống kỳ lạ. Họ sống được là do trời, hay là do hoàn cảnh đã tạo nên cái sức sống đó, họ cũng chẳng biết nữa. Họ cứ tồn tại, bất chấp cái quy luật khắc nghiệt của tạo hóa.
Sáng nay bà lão đi chợ. Bà mua hai lạng thịt ba chỉ về làm món thịt kho tàu, mà những người nhà quê như bà rất thích. Bà thổi lưng bò gạo cho hai người ăn. Trong khi ăn, bà mới thẽ thọt kể cho ông nghe về hoàn cảnh của mình.
Chẳng giấu gì bác, em là người nhà quê. Nhà ở ven thị trấn Hưng Yên. Cũng có ba gian nhà ngói, một mảnh vườn hai sào Bắc Bộ. Thời bao cấp, em là nhân viên bán hàng mậu dịch. Em bán thịt cá theo tem phiếu, nên cuộc sống cũng không đến nỗi nào. Chẳng giấu gì bác, mỗi tháng chị em cũng được ưu tiên mua mấy cân thịt, mấy cân cá. Ở cái thời tem phiếu, nhân viên mậu dịch là sướng nhất đấy bác ạ.
Có lần, nhà chị bạn nông dân bên cạnh, ốm liệt giường, có một đứa con gái mới 8 – 9 tuổi, chồng hy sinh ở chiến trường. Chẳng giấu gì bác, làm nhân viên mậu dịch cũng có chút lương. Em vốn người sởi lởi, vô tâm, em biếu bác ấy nửa cân thịt lợn, tiêu chuẩn của em, và mười đồng bạc, để bác ấy mua thuốc chữa bệnh. Bác biết đấy, cái thời ấy lương của em và bác cũng chỉ được bốn năm chục đồng.
Cũng may cho bác ấy, trời phù hộ, cũng tai qua nạn khỏi.
Năm 2000, con gái em và chồng nó ở Hà Nội, muốn mua đất làm nhà, tiền ky cóp mấy năm không đủ. Chúng nói với em:
    - Mẹ năm nay cũng đã già. Mẹ bán quách cái mảnh vườn và ngôi nhà, lên ở với chúng con, cho có mẹ có con. Chúng con sẽ nuôi mẹ, và phụng dưỡng mẹ lúc tuổi già.
Em chỉ có một đứa con gái, nghe bùi tai. Em bán ngôi nhà và mảnh vườn, cộng với ít tiền về mất sức một cục và tiền chắt bóp, đưa tất tần tật cho chúng làm nhà.
Cái họ nhà em không có phúc thế nào ấy. Con gái em lấy được thằng chồng, thời bao cấp làm lái xe, hay rượu chè, cờ bạc. Có đồng nào nướng vào cờ bạc hết. Được mấy đứa con giai, đứa thì nghiện ngập, đứa thì cờ bạc. Chẳng đứa nào nên hồn người. Chúng đối xử với em chẳng ra sao, như người thừa, ăn bám. Giữa lúc em đang không biết nên thế nào, thì cái đứa con gái bà bạn hàng xóm, em đã nói chuyện với bác đấy. Nó đến chơi, thấy hoàn cảnh của em, nó đưa em về nhà nó. Nó là đứa hiếu thảo. Cái Lan ấy, tên nó là Lan. Trước khi mẹ nó mất, mẹ nó dặn lại phải chú ý đến em. Bà ấy vẫn nhớ, cái thời xa xưa, em giúp bà ấy tai qua nạn khỏi. Người nhà quê thật hay vẽ chuyện, phải không bác. Chỉ có chuyện nhỏ như vậy, mà nhớ dai thế.
Em ở nhà nó được 6 tháng. Nó rất chu đáo, đối xử với em như mẹ đẻ nó. Nhưng em thấy ở lâu không tiện, vả lại vợ chồng nhà cái Lan đi làm suốt ngày, lại có hai con phải đưa đi học. Nên em xin cái Lan cho về ở với con gái em. Em nghĩ, máu chảy ruột mềm.
Bác biết không, nó đưa em về nhà con gái em. Nó nói với thằng con rể và con gái em:
    - Chúng em có lỗi là không chu đáo, để bác đòi về ở với chị. Chúng em có chút quà là hai cây vàng và một chục triệu đồng, đưa anh chị, để anh chị chăm lo cho bác. Mong anh chị nhận, cho chúng em vui lòng.
Nói đến tiền và vàng, thằng con rể và đứa con gái em mắt sáng lên. Chúng chẳng nề hà gì, nhận luôn.
Số tiền vàng đó, chỉ mấy tháng sau, thằng con rể nướng vào cờ bạc và mấy thằng con nghiện ngập cũng vặt sạch.
Chúng đối xử với em như người thừa, một kẻ ăn bám, vô tích sự, nhất là thằng con rể.
Trong một lần vợ chồng chúng nó cãi nhau về tiền nong. Thằng con rể đã trút mọi giận dữ lên em và nó đánh em. Em biết rằng mình không ở đấy được nữa, thế là em bỏ đi. Em không biết đi đâu, em cứ đi ra khỏi nhà cho thoát, rồi đến đâu thì đến. Và rồi em gặp bác đây, giúp đỡ em tai qua nạn khỏi. Có lẽ em sẽ trở về quê, theo bác em nên làm thế nào?
- Bà về quê thì ở đâu? Sống bằng gì? Chi bằng bà cứ ở đây, mở quán bán nước, cũng có thể sống qua ngày được.
Thế là bà ở lại cái ngôi nhà cống. Trong túi bà có 200.000 đ, mà cái Lan cho bà ăn quà, bà không tiêu gì, vẫn giữ đến giờ. Bà xin được cái bàn cũ của bạn vé số của ông Thân. Bà mở quán nước chè xanh với dăm ba quả chuối, mấy quả ổi, một lọ kẹo lạc và mấy thứ linh tinh khác. Bà bán thêm cả thẻ điện thoại di động, cũng kiếm được đồng ra đồng vào.
Người ta vẫn gọi bà là bà Thiện, Thiện là tên chồng bà, còn tên bà là Ngà, lâu quá rồi, bà cũng quên luôn cái tên bố mẹ đặt cho mình.
Có lẽ cũng đã đến lúc kể sơ qua về nhân vật bí hiểm của chúng ta, ông Thân.
Ông Thân là một thầy giáo dậy văn. Ông là một nhà giáo thành đạt. Ông là hiệu trưởng một trường phổ thông trung học ở thị xã Bắc Giang. Ông đã đào tạo bao lớp học sinh trưởng thành. Có người đã là thứ trưởng, có người là giáo sư tiến sĩ, có người là giám đốc… Ông có tiếng là thày giáo liêm khiết, có tài, có đức. Khi ông về hưu, dành dụm được chút ít tiền, ông mua được 300 mét vuông đất, với mục đích mở rộng không gian vườn cho thoáng đẹp. Thế rồi giá đất cứ lên vùn vụt. Cái cơ ngơi 500 mét vuông đất của ông, bây giờ đã có giá bạc tỉ.
Ông chỉ có một cậu con trai, được học hành tử tế, có bằng tiến sĩ, làm ở một cơ quan có tiếng của nước ngoài. Vợ cũng có bằng đại học y khoa, làm ở một bệnh viện có tiếng ở Hà Nội. Ông cũng đã có một thằng cháu đích tôn 5 tuổi. Như ông, thế là mãn nguyện quá rồi, còn đòi hỏi gì hơn. Chỉ tiếc rằng vợ ông vì một căn bệnh hiểm nghèo, mất sớm, không được hưởng cái hạnh phúc như ông.
Đó là nói về mười năm về trước. Khi ông mới về hưu được mấy năm. Theo cái trào lưu của xã hội hiện đại. Tất cả lo cho con cái về Thủ đô Hà Nội, miền đất hứa của thế hệ trẻ đang sung sức, muốn vươn lên. Ông cũng như nhiều người khác ở tỉnh lẻ, muốn cho con cái trưởng thành về ở cái đất hà thành phồn hoa đô hội. Ông đem bán ngôi nhà ba tầng và mảnh vườn 500 mét vuông ở Bắc Giang, lên Hà Nội mua được mảnh đất 70 mét vuông và làm được ngôi nhà 4 tầng khang trang, hiện đại. Ông cũng không giữ lại cho mình chút vốn liếng nào. Ông nghĩ một cách đơn giản, tất cả dành cho con cháu.
Ông sống trong ngôi nhà hào nhoáng ở đất kinh kỳ được ba năm, và mong dậy dỗ đứa cháu nội nên người. Nhưng rồi, cái không nghĩ đến, đã đến. Ông nhận ra, có những khoảng cách giữa ông và cô con dâu, vốn là một bác sỹ, được mọi người trong xã hội kính trọng, nể nang và nghe theo răm rắp, lại kiếm được tiền một cách dễ dàng. Con dâu ông nẩy sinh những tư tưởng mới, muốn chứng tỏ mình là thế hệ người hiện đại, muốn chứng tỏ quyền lực trong gia đình. Có lần đứa cháu nội 6 tuổi của ông, nói với ông, khi ông dậy nó học bài:
- Mẹ cháu bảo, phải nghe mẹ cháu, không được nghe ông. Cách dạy, cách nghĩ của ông cổ điển quá rồi, cái thời của ông đã qua rồi. Thời bây giờ là thời của mẹ và con.
Ông nghe cháu mình nói, mà chết điếng người. Có phải ông là người đã lỗi thời rồi không? Hay cái tự phụ của lớp người trẻ, đã làm họ tự huyễn hoặc mình. Ông cũng nhận ra một điều, con giai mình, nó không nghe mình nữa, nó gần như bỏ ngoài tai, mọi điều mình nói.
Ông là người không muốn ngồi chơi, muốn giúp đỡ con cháu chút ít việc trong nhà. Nên thỉnh thoảng ông giúp con dâu làm những món ăn, khi con ông về muộn. Nhưng những món ông làm, con dâu ông không đụng đũa. Không biết có phải món ăn không hợp khẩu vị, hay nó muốn chứng tỏ quyền lực của nó trong cái nhà này. Thế là chỉ còn mình ông ăn món ăn, ông nấu. Ông cũng không biết, đâu là sự thật. Thỉnh thoảng ông tắm cho cháu nội của ông, nhưng khi về con dâu ông nó lại tắm lại cho con nó.
Con giai ông, không biết vì nể vợ, hay sợ vợ, hay muốn cho gia đình êm ấm, những việc đó hầu như nó tảng lờ, như không hay biết.
Ông đã toàn tâm, toàn ý, xây dựng nên cái gia đình này, nhưng bây giờ ông như người ngoài cuộc. Trở thành người thừa. Ông rất buồn, nhưng không nói được với ai. Khoảng cách của ông và con dâu ông, cứ càng ngày càng rộng mãi ra, càng ngày càng xa cách. Hai thế hệ con người, không tìm được tiếng nói chung. Ông càng ngày càng ít nói, và hầu như suốt ngày không nói gì. Nói với ai? Có ai mà nói? Có ai nghe mình nói? Cuộc sống của ông không ngờ lại lâm vào bế tắc như thế này.
Rồi cái gì đến cũng sẽ đến. Ông không chịu nổi cái cảnh người dưng nước lã. Một hôm ông nói với con giai và con dâu ông, cũng là để thử lòng chúng xem sao:
- Ông muốn về quê chơi vài hôm, hai con nghĩ thế nào?
    - Con trai ông không nói gì. Nhưng con dâu ông nói luôn:
    - Vâng, bố cứ làm việc gì bố thích. Chúng con cũng không có quyền giữ bố.
    Ông biết, thế là ông không có đường lùi nữa rồi. Ở quê, các bác đều mất cả. Còn ai nữa mà về. Ông cũng định đi chơi vài hôm, loanh quanh ở Hà Nội, rồi về. Giận chúng vậy thôi, nhưng một giọt máu đào còn hơn ao nước lã, ông cha ta đã dậy thế rồi.
Lang thang hai ngày ở Hà Nội. Nhớ cháu, ông muốn quay về. Nhưng nghĩ, khi về gặp con dâu, với ánh mắt lạnh nhạt, nó sẽ hỏi ông:
- Con tưởng bố sẽ đi chơi một vài tháng, bố mới đi vài ngày đã về rồi à?
       Cứ nghĩ đến vẻ mặt và câu nói của nó, ông lại ngại ngùng. Đau xót nhất là chạm đến lòng tự trọng, cái cao quý nhất của người thầy giáo, mà bao năm ông được mọi người kính trọng. Thế là ông ở lại cái nhà ống cống này, từ ấy đến nay. Ông không biết con ông có đi tìm ông hay không? Nhưng biết ông ở đâu mà tìm. Với đồng lương hưu, ông vẫn sống được, ông bán vé số là để cho vui, là để có bạn.
Một năm nữa trôi qua. Những lúc rảnh rỗi, thường là vào khoảng 8 – 9 giờ tối, khi công việc đã xong. Ông lại ngồi uống trà với bà bạn Thiện. Có lúc ông tâm sự với bà những câu có vẻ rất triết lý, rút ra từ cái giá của việc làm của mình:
    - Cái sai lầm lớn nhất của tôi và bà là bỏ quê hương, mà theo con cái. Đáng lẽ chỗ của bà và tôi là ở quê của mình. Mình đã tự đánh mất cái tự do của mình. Cuộc sống ở nơi đô hội không dành cho người già như tôi và bà. Chúng ta đến với con cái là sợ sự cô đơn và muốn nương nhờ vào chúng. Nhưng những gì chúng ta nhận được là nỗi cô đơn hơn và nỗi buồn nhân thế.
    - Bác nói cũng phải. Bác là người hiểu đời. Chứ em là người ruột bỏ ngoài da, em nghĩ đấy, rồi lại quên đấy.
    - Thế lâu nay, buổi tối bác ngồi hí hoáy viết cái gì thế?
    - À, viết về những mảnh đời trôi dạt. Viết về nỗi buồn nhân thế.
    - Thế là viết về cuộc đời của bác và của em chứ gì?
    - Cũng không hẳn thế. Viết về nỗi đau. Về những cái đã mất. Về nhân tình thế thái. Về sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Về sự thống trị của đồng tiền trong xã hội hiện đại.
    - Bác nói những cái cao siêu thế thì làm sao em hiểu được.
- Cứ ngẫm đi rồi sẽ hiểu.
Cuộc sống của ông Thân và bà Thiện cứ thế trôi đi. Rồi đến một ngày. Cái ngày định mệnh. Vào một chiều hè mưa tầm tã, trắng trời, trắng đất, suốt từ trưa đến tối mịt. Ông Thân không bán hết vé số, và vì trời mưa quá to, ông không đi trả được vé số thừa. Ông giữ lại bốn vé số. Ông tặng cho bà Thiện hai vé, còn ông giữ lại hai vé cho mình. Đây là lần đầu tiên ông giữ lại vé số. Từ khi ra ở cái nhà ống cống, ông cho rằng cái số mình hẩm hiu khi về già, nên ông không bao giờ mua vé số, để thử vận may. Ông không tin vào cờ bạc sẽ mang đến cái gì tốt lành.
Một đêm mưa qua đi. Đến sáng thì tạnh. Tối qua trời mưa, ông không đi ghi những vé số trúng thưởng được. Sáng nay, ông phải đến sớm, ghi các vé trúng thưởng ngày hôm qua, để báo cho khách hàng. Ông không để ý đến những con số. Về đến nhà, ông mới thư thả so lại những se ri trúng giải, với những vé số của mình bán. Ông bỗng giật nẩy mình, không tin vào mắt mình nữa. Ông so đi so lại sê ri của 4 vé số ông để lại. Đến lần thứ ba, ông mới tin là thật. Ông nhìn ra chỗ bán nước của bà Thiện. Hôm nay, sao đến giờ này, bà ấy vẫn chưa bầy hàng. Ông vội chạy đến cái nhà ống cống của bà Thiện, để báo cho bà, hai vé số của bà đã trúng giải nhất, mỗi vé 50 triệu đồng.
Ông nhấc tấm bìa sang bên, nhìn vào. Bà Thiện nằm cứng đơ. Ông sờ bàn chân, đã lạnh ngắt. Ông bàng hoàng, muốn khụy xuống. Ông phải vịn vào thành ống cống, để đứng cho vững. Sao bà ấy lại có thể đi nhanh như vậy. Hôm qua còn cười nói, chuyện trò vui vẻ, mà hôm nay đã… Con người ta thật không biết thế nào! Có người muốn chết, cũng không sao chết được. Nghĩ cho cùng, bà ấy đi nhanh như vậy cũng là phúc đức cho bà ấy. Chỉ buồn một nỗi là cái may chưa biết, cái rủi đã đến rồi.
Ông nhờ mấy người bạn vẫn mua vé số, đi khai xin giấy báo tử cho bà Thiện. Còn ông thì tất tả, lần theo lời kể của bà Thiện, đến nơi con gái và con rể của bà, để báo cho họ biết. Đến cái ngõ, đi suốt vào trong cùng, theo lời kể của bà Thiện. Ông thấy đôi vợ chồng gầy nhom, tóc bạc trắng, đúng như lời bà Thiện kể. Người vợ đang nhặt rau, còn người chồng đang ngồi ở chiếu bạc giữa nhà với mấy ả ca ve, mặt bự phấn, môi đỏ chót. Chắc là đang bị thua bạc, anh con rể nói với mấy ả ca ve:
- Chúng mày đúng là loại cờ gian, bạc lận, tao thua sạch với chúng mày rồi.
    - Bố ơi! Bố cũng chả kém gì chúng con về cái khoản ấy. Chúng con chỉ hơn bố ở chỗ nhanh tay hơn thôi.
Ông cất lời hỏi đôi vợ chồng con bà Thiện:
    - Xin lỗi, cho tôi hỏi một câu. Anh chị có phải là con rể và con gái bà Thiện không?
Người con gái ngước nhìn, im lặng. Còn anh con rể ậm ừ:
    - Ừ. À. Bà Thiện à? Ngập ngừng một lát. Ở đây…  Ở đây… không có ai là Thiện cả. Chắc là ông nhầm rồbè làng xóm thân thương.i.
    Mấy ả ca ve hùn vào:
    - Ông già ơi! Ở đây không có bà Thiện, mà chỉ có    
bà A cờ Ác bờ ác bác nặng Bạc thôi. Ông có cần chúng em thì chúng em theo. Rồi chúng cười khanh khách.
Ông biết, không trông đợi được gì ở những người này. Ông quay ra, lòng buồn rười rượi.
Nhờ có số tiền bà Thiện trúng thưởng, Ông và mấy người bạn mua vé số và uống trà quen ở quán bà Thiện, lo đám tang cho bà Thiện chu đáo ở nhà tang lễ Phùng Hưng. Hai tuần sau, ông đưa tro hài cốt của bà Thiện về quê bà, theo ước nguyện của bà, thường nói với ông. Ông xây cho bà một ngôi mộ đàng hoàng. Ông đưa cho mấy người họ hàng của bà Thiện số tiền trúng thưởng còn lại. Nhờ họ, thắp nhang, cúng giỗ cho bà ấy.
Ông thắp cho bà nén nhang cuối cùng. Quay đi, ông không khỏi bùi ngùi cho những phận đời chìm nổi, lênh đênh và chạnh lòng nghĩ đến thân phận mình.
Từ đó, người ta không thấy ông Thân bán vé số đâu nữa. Có người đoán già đoán non, rằng có lẽ với số tiền nhận được từ hai vé số trúng thưởng, ông đã về quê. Với số tiền đó, ông có thể mua một mảnh vườn và một căn nhà nho nhỏ, sống thoải mái, tự do tự tại ở quê nhà với bạn bè làng xóm thân thương.

Lời nguyền linh ứng

                                                          Truyện ngắn của Lê Thanh Long

    Hắn là Lò Văn Sửu, ở bản Tả Phình. Họ nhà hắn mấy đời được hưởng lộc trời. Đến đời hắn là đời thứ tư. Đời cụ hắn, đời ông hắn, đời bố hắn, đều giầu có, có chức sắc, được dân trong vùng kính trọng, nể vì. Người làng bảo các cụ nhà hắn sống có đức độ, nên tiếng tăm và của cải đổ tràn xuống đến đời hắn.
    Hắn giầu có, nhà có hàng trăm con trâu, hàng vạn vạn giạ lúa, lợn gà không đếm xuể. Tính hắn ích kỷ, ky cóp từng hào, từng cắc. Không chia lộc cho ai bao giờ. Tính tình lại lỗ mãng, hung bạo, hay rượu chè bê tha, lúc nào cũng say khướt. Hắn có đến ba bà vợ. Bà nào cũng trẻ đẹp, nõn nà. Nhưng chẳng bà nào đẻ cho hắn được một mụn con, để nối dõi tông đường. Hắn bực lắm, chửi các bà vợ là “những mụ vô tích sự, không biết đẻ đái”. Năm hắn gần bốn mươi tuổi, hắn lấy thêm bà vợ thứ tư, tuổi mới mười tám, khỏe như con trâu rừng. Hắn hy vọng cô vợ thứ tư sẽ đẻ cho hắn một mụn con trai.
Hắn chè chén lu bù, đến khi say khướt mới khật khưỡng trở về nhà. Hắn thích ngủ với vợ lúc say rượu. Hắn cho rằng ngủ với vợ lúc này mới khỏe, mới hứng và mới dễ có con.
Một hôm có một ông già tóc bạc phơ, râu dài đến ngực, da dẻ đỏ như son, từ trên núi cao xuống, đi ngang qua bản của hắn. Hôm đó, đúng vào ngày dân bản phải đến nộp tô cho chúa bản Lò Văn Sửu. Mọi người kĩu kịt gồng gánh nào lúa, nào ngô, nào lợn, nào gà, nào rượu… đến nộp cho hắn. Hắn ngồi chễm chệ ở giữa sân, trên cái ghế tràng kỷ chạm khắc cầu kỳ. Các bà vợ thì tất bật mỗi người một việc. Hắn và các bà vợ hắn hết quát mắng, lại chửi bới những người dân lành đến nộp tô.
    Có một cụ già, tóc bạc phơ, có dễ đến tám mươi tuổi, đến quỳ trước mặt hắn, chắp tay xin hắn cho khất mấy hôm, vì con trai đang ốm đau, chưa lo đủ số tô đưa đến nộp. Hắn nổi đóa, đứng phắt dậy, giang chân đá cụ già lăn long lóc mấy vòng. Mặt hắn đỏ bừng bừng, lớn tiếng quát:
    - Nếu ngày mai không đưa đến đủ, thì sai lính đến bắt cả nhà nộp quan trên.
    Ông cụ lồm cồm bò dậy, năn nỉ:
    - Xin quan thương tình, nếu nhà có đủ, con đã đem đến nộp, nhưng hiềm vì…
     Vừa nói đến đây, chúa bản Lò Văn Sửu đã vung nắm đấm, nhằm thẳng mặt cụ già thoi tới. Nhưng một bàn tay cứng như sắt đã kẹp chặt lấy nắm tay hắn, và một giọng nói đanh gọn vang lên dõng dạc:
    - Không được ức hiếp dân lành, nếu không hậu quả sẽ khôn lường.
Nói xong, ông già râu dài, túm tóc Lò Văn Sửu nhấc bổng lên như nhấc một đứa trẻ con, rồi ném hắn xuống đất:
- Ta có ba lời nguyền dành cho ngươi. Ngươi hãy nghe cho rõ:
    Thứ nhất, nếu ngươi không thay đổi tâm tính và cách sống, đẻ con ra sẽ không được là người bình thường.
    Thứ hai, nếu ngươi không bỏ rượu và tu nhân tích đức, con ngươi sẽ là một quái thai mắt lồi.
Thứ ba, nếu ngươi làm tròn cả hai việc trên, ngươi sẽ có đứa con nối dõi tông đường bình thường.
Nói xong, ông già râu tóc bạc phơ bỏ đi. Ông leo thoăn thoắt lên núi, rồi mất hút sau làn mây trắng như bông. Để lại Lò Văn Sửu ngơ ngác như kẻ mất hồn.
Dân bản thì thào với nhau:
- Đấy là ông tiên đã tu luyện lâu năm trên núi cao. Ông thường đi cứu giúp dân lành gặp hoạn nạn.
    Lò Văn Sửu, sau cơn sợ hãi lúc đầu, rồi đâu lại vào đấy. Hắn không tin lời ông già râu dài nói. Các bà vợ hắn thì xanh mắt một lúc, nửa tin nửa ngờ. Không biết có thực như vậy không?
Mấy tháng sau. Bụng bà tư của hắn ngày càng to. Hắn mừng lắm. Nhưng vợ hắn thì lo. Cứ mỗi lần nghĩ đến lời ông già râu dài, thì lòng dạ lại không yên. Đêm toàn mơ thấy những giấc mơ quái đản, những cảnh tượng chưa bao giờ gặp. Thế rồi, cũng đến chín tháng mười ngày. Vợ hắn sinh hạ được một đứa con trai bụ bẫm, chả khác gì những đứa trẻ khác. Hắn mừng lắm, giết lợn ăn mừng mấy ngày liền. Hắn cười khẩy. Rồi hắn cũng quên dần câu chuyện ông già râu dài.
Một năm sau. Đứa con trai của hắn cứ ăn, nằm và cười, ngây ngây dại dại. Lúc này vợ hắn bắt đầu lo. Các bà vợ hắn không ai bảo ai, ngấm ngầm giấu hắn, cùng nhau làm việc thiện. Hàng ngày giúp đỡ người già, người khó khăn ốm yếu, nay bắp ngô, mai bát gạo, lên chùa cầu khấn thần phật, mong thần phật phù hộ cho an lành.
Còn hắn thì vẫn bình chân như vại. Hắn cho rằng lớn lên, con hắn sẽ thay đổi. Vợ tư hắn lại có chửa, sắp sinh đứa thứ hai. Hắn mừng lắm. Rồi cũng đến ngày đứa con thư hai của hắn ra đời. Khi nhìn thấy nó, mọi người phát hoảng. Thằng bé đầu thì to, mắt thì lồi, một chân to, một chân nhỏ. Một thằng bé dị dạng.
Phải mấy hôm sau, các bà vợ mới cho hắn biết. Hắn nhìn thấy đứa con, mà bủn rủn cả chân tay. Lúc này hắn mới nghĩ đến từng lời nguyền của ông già râu tóc bạc phơ ngày nào. Thế là hắn có hai đứa con theo đúng lời nguyền: một đứa ngây ngây dại dại, một đứa quái thai mắt lồi. Hắn chết điếng người. Hắn tự trách mình không sớm tỉnh ngộ, sớm tu nhân tích đức, để hai đứa con lâm vào cảnh ngộ nửa người, nửa ngợm. Hắn đau xót tự trách mình bê tha rượu chè. Hắn mường tượng lại thời hắn còn trẻ, xem bố hắn đã làm những việc gì cho dân bản, mà được dân yêu mến như thế. Và hắn quyết tâm làm theo gương của bố hắn, tu tâm tích đức. Hắn dần dần bỏ được rượu. Sức khỏe hắn tốt dần lên trông thấy. Đầu óc được khai thông, hắn hối hận với những việc làm trước kia của hắn. Hắn năng công đức cho nhà chùa. Không ức hiếp dân lành. Tìm thày, tìm thuốc chạy chữa cho hai đứa con.
Cầu mong thần phật thương tình, phù hộ cho những đứa con của hắn.
Thế rồi vợ hắn lại có chửa, bụng cứ to dần. Lần này hắn mừng thì ít, mà lo thì nhiều. Hắn dồn hết tâm sức vào làm việc thiện. Trong đầu óc hắn lúc nào cũng chỉ nghĩ đến, làm sao làm được nhiều việc tốt cho dân, cho bản. Trong khi ngủ hắn cũng không quên câu nói của ông già râu tóc bạc phơ.
Đúng chín tháng mười ngày, vợ tư của hắn sinh được đứa con trai thứ ba. Mọi người trong nhà hắn, không ai dám vào nhìn. Chỉ đến khi bà đỡ vui vẻ báo: “Đứa trẻ kháu khỉnh, bụ bẫm, khỏe mạnh”. Hắn mới thở phào nhẹ nhõm, như cất được gánh nặng như trái núi, vẫn đè nặng lên ngực hắn, trong những ngày vợ hắn sắp sinh.
Hắn đã làm đúng những gì ông già râu tóc bạc phơ  nói. Và lời nguyền đã linh nghiệm. Hắn muốn để chút phúc lộc lại cho đứa con bé bỏng của hắn.
Nhưng việc đời thì lại không mấy khi theo ý nguyện của con người. Lâu nay hắn thấy trong người mệt mỏi, bụng cứ chướng lên. Hắn nắn bên sườn phải thấy cứng và đau. Hắn mời thầy lang đến bắt mạch. Thầy lang bắt mạch, hỏi hắn một hồi, sờ sờ nắn nắn bụng của hắn. Rồi lắc đầu, buồn rầu báo cho hắn biết “Hắn bị bệnh nan y, không cứu chữa được”. Đó là hậu quả của việc uống quá nhiều rượu. Và khuyên hắn bình tĩnh, vui vẻ, sống với vợ con được ngày nào quý ngày ấy.
Hắn cho rằng “Đó là quả báo”. Hắn không trách trời, trách đất, mà chỉ trách mình, không sớm nghe lời ông già râu tóc bạc phơ, để bây giờ hứng chịu mọi hậu quả. Hắn nghĩ: “Đây, âu cũng là cái lẽ của trời đất, của tạo hóa, dành cho con người ta”. Nhưng hắn được  an ủi là có một đứa con trai nối dõi dòng họ Lò Văn lâu đời. Và có lẽ đó là niềm vui trong sáng nhất trong suốt cuộc đời hắn.



Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Nét son ở đời


LÊ THANH LONG                                                               







Nét son ở đời


Có lần chạm ánh mắt em
Mới hay gió núi cũng thèm trời xanh
Có lần chạm cõi mong manh
Mới hay chữ nghĩa là dành trăng sao

Xòe tay lỡ chạm nụ đào
Mới hay tình cũng ngọt ngào đa đoan
Một lần sống ở thế gian
Đất nuôi ước vọng, trời ban cánh thần

Đời là một ánh nắng xuân
Hay là đêm tối, cũng gần nhau thôi!
Ta làm hạt đất sinh sôi
Còn hơn quả núi trơ ngồi cô đơn

Cái gì mất, cái gì còn
Cũng là vẽ một nét son ở đời
Nhìn ra cái lẽ làm người
Rồi tan vào đất, nói lời của mây!

Lẽ trời búng sẵn con quay
Buồn vui trả lại, cải bay về trời*
                            
* Gió đưa câu cải về trời
                             (Ca dao)

Thứ Năm, 4 tháng 4, 2013

Nghi vấn văn chương về tác giả dịch Nôm Chinh phụ ngâm


LÊ THANH LONG


Nghi vấn văn chương
về tác giả dịch Nôm Chinh phụ ngâm


      Có lẽ, Vũ Hoạt là người đưa ra vấn đề dịch giả cuốn Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm. Trong bài tựa cuốn Chinh phụ ngâm khúc in năm 1902, Vũ Hoạt viết: “ Nhớ xưa, Đặng Tiên sinh làm ra sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra quốc âm”. Từ đó, mọi người vẫn đinh ninh là bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm dịch ra chữ Nôm.
      Sau đó, Thuần Phong Ngô Văn Phát, giáo sư Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam học sử yếu” và Nguyễn Đỗ Mục trong “ Chinh phụ ngâm dẫn giải”, Đặng Thái Mai (1950) cũng khẳng định bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm.
      Đột nhiên, vấn đề dịch giả của bản Chinh phụ ngâm hiện hành được các học giả, nhà nghiên cứu… quan tâm lật lại vấn đề là vào năm 1926.
     Nguyên do là báo Nam Phong số ra 106 tháng 6 năm 1926 có đăng một bài nhan đề “Phan Dụ Am tiên sinh văn tập” của ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Trong bài đó, tác giả viết: “Chinh phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà Điểm diễn Nôm, dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?’
      Bài báo trên ra đời, do ông Phan Huy Chiêm, chắt 5 đời của tiến sĩ Phan Huy Ích có viết cho Đông Châu Nguyễn Văn Tiến một bức thư nói rằng, theo tộc phả họ Phan Huy , cùng lời các bô lão trong họ truyền lại, thì bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là do Phan Huy Ích “diễn ra văn Nôm, hiện giờ (1926) còn giữ đượng bản chính vừa chữ, vừa Nôm”. Ông Chiêm còn đưa ra bài thơ chữ Hán, Phan Huy Ích làm, sau khi hoàn thành bản dịch Nôm Chinh phụ ngâm khúc, đó là bài “Ngẫu thuật”. Tuy nhiên ông chỉ gửi bài thơ “Ngẫu thuật” làm, sau khi dịch xong Chinh phụ ngâm, chứ không đưa ra được bản Chinh phụ ngâm vừa chữ Hán, vừa chữ Nôm như đã nêu.
      Sau đây là nguyên văn bài thơ “Ngẫu thuật”:
Ngẫu thuật
Nhân Mục tiên sinh “Chinh phụ ngâm”,
Cao tình dật diệu bá từ lâm.
Cận lai khoái trá tương truyền tụng,
Đa vĩ thôi xao vi diễn âm.
Vận luật hạt cùng văn mạch túy,
Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm.
Nhà trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tin suy minh tác giả tâm.
                                   ( Phan Huy Ích)
Dịch nghĩa:
Bài Chinh phụ ngâm của Đặng tiên sinh người làng      
                                                              Nhân Mục,
Tình cao điệu lạ đã được truyền bá khắp rừng văn.
Gần đây mọi người truyền tụng lấy làm thích thú lắm,
Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm.
Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được
                                cái tinh túy trong mạch văn,
Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc
                                         mà diễn ra thì mới được.
Nay nhân buổi nhàn hạ, ta dịch ra thành khúc mới
                                                            (tân khúc),
Chắc tin rằng đã suy minh được lòng tác giả.
      Năm 1943, ông Hoa Bằng trong bài “Dịch phẩm Chinh phụ ngâm phải chăng của bà Đoàn Thị Điểm?” đăng trong tạp chí Tri tân, số 113, dựa trên ba tài liệu chủ yếu (Lịch Triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục và Đoàn thị thực lục), cũng chỉ đưa đến xác nhận Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đều có dịch Chinh phụ ngâm khúc. Còn bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của ai, thì không giải quyết được.
      Năm 1944 Trúc Khê về nhà họ Đoàn, tìm trong bộ Đoàn thị thực lục – Gia phả của họ Đoàn, không tìm thấy thông tin bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm. Ông viết: “Bản Chinh phụ ngâm khúc có thể không phải của bà Đoàn Thị Điểm” (Trúc Khê: Những tài liệu mới về Đoàn Thị Điểm, Tiểu thuyết thứ bảy, 9 – 1944).
      Đến năm 1953, trong cuốn “Chinh phụ ngâm bị khảo”, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã sưu tầm được 4 bản dịch Chinh phụ ngâm khúc, được sắp xếp đánh dấu theo thứ tự A, B, C, D.
      Bản A, là bản dịch thành công nhất và phổ biến nhất xưa nay, theo thể song thất lục bát, có độ dài 412 câu (theo bản chữ Nôm cũ hiện còn, ký hiệu
1902.AB.26) hoặc 408 câu (một bản in khác lưu tại thư viện Paris).
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn khẳng định:
      Bản A, bản chinh phụ ngâm khúc hiện hành, là của Phan Huy Ích.
      Bản B là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có ghi hai chữ “nữ giới”, ý nói là do đàn bà diễn ca (tr.27).
      Bản C, bản của Nguyễn Khản.
      Bản D, không biết là do ai dịch. Bản này chỉ là một bản đã phiên âm ra quốc ngữ, lời văn kém hơn các bản kia.
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho rằng, bản B là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có hai chữ “nữ giới”, ý nói đó là do đàn bà diễn ca, là không đủ sức thuyết phục.
      Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Cang dựa trên cơ sở con cháu họ Phan nhớ thuộc lòng Chinh phụ ngâm, đọc thuộc lòng được bản Chinh phụ ngâm gần giống với bản hiện hành, cũng không có sức thuyết phục. Vì con cháu họ Phan bây giờ đã sống rất xa thời Phan Huy Ích (đã 200 năm rồi) và ở Việt Nam thiếu gì người thuộc lòng Chinh phụ ngâm.
       Có ý kiến cho rằng bà Đoàn Thị Điểm là người đầu tiên dịch nôm tác phẩm này với thể song thất lục bát, văn chương rất điêu luyện. Bản dịch của Phan Huy Ích ra đời muộn hơn đến 45 năm, cũng dùng chính thể thơ đó và chịu ảnh hưởng rất nhiều của bản dịch trước. Có thể nói Phan Huy Ích đã nhuận sắc lại bản dịch trước kia của Đoàn Thị Điểm, vì vậy mà bản
dịch của ông hoàn hảo hơn. Thực ra, ý kiến này cũng chỉ là suy luận đơn thuần, mới nghe có vể có lý, nhưng xét kỹ cũng không có cơ sở.
      GS Nguyễn Lộc cũng cho rằng bản dịch Chinh phụ ngâm đầu tiên là của Đoàn Thị Điểm.
     Năm 1972, giáo sư Nguyễn Văn Xuân tìm được ở Huế bản Nôm “Tân san Chinh phụ ngâm diễn Nôm từ khúc”, ấn hành từ năm Gia Long 14 (1815). Bản Nôm này cơ bản phù hợp với bản mà giáo sư Hoàng Nguyên Hãn cho là của Phan Huy Ích, cũng có nghĩa là phù hợp với bản nhà nghiên cứu Lại Ngọc Cang đã ghi được ở Sài Sơn từ hậu duệ của Phan Huy Ích. Đáng chú ý trong đó có bài tựa của Nhà xuất bản “Chính Trực đường” và đặc biệt có bài nguyên tựa của dịch giả Phan Huy Ích. Giáo sư Nguyễn Văn Xuân xác quyết “ Dịch giả đích thực của cuốn sách là tiến sĩ Phan Huy Ích, với tên sách đầy đủ là “ Tân san Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc”.
      Đến đây, tưởng rằng đã rõ, có thể kết thúc một nghi vấn văn chương đã kéo dài một thế kỷ, vì đã “nói có sách, mach có chứng”. Nhưng tại sao vẫn chưa kết thúc được? Có lẽ, các nhà nghiên cứu, khảo luận vẫn chưa tin tưởng, ngay cả bài nguyên tựa của dịch giả Phan Huy Ích, coi đó cũng chỉ giống như bài tựa của Vũ Hoạt năm 1902, cho rằng Chinh phụ ngâm là của Đoàn Thị Điểm chăng?
      Đến nay, các nhà nghiên cứu, giảng dạy môn văn trong nhà trường như Nguyễn Thạch Giang, Nguyễn Đăng Na, Lã Nhâm Thìn… vẫn coi Đoàn Thị Điểm là tác giả bản diễn Nôm thông dụng hiện hành.
      Còn các ông Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Cang, Nguyễn Văn Xuân… thì cho là bản Chinh phụ ngâm thông dụng hiện hành là của Phan Huy Ích.
      Theo ý kiến chúng tôi, có thể không cần đi đâu xa, ta có thể tìm thấy sự thật cho câu trả lời, ngay trong hai bản A và bản B. Để xác định bản nào là của Đoàn Thị Điểm, bản nào là của Phan Huy Ích, có thể dựa trên hai tiêu chí:
1.     Thứ nhất dựa trên quan điểm về dịch thuật.
2.     Thứ hai dựa trên chất nữ tính và nam tính trong từng câu, từng chữ của hai bản dịch.
      Đọc hai bản dịch A và B, ai cũng phải công nhận bản A dịch hay hơn bản B.
      Bản A văn phong thanh thoát, vần điệu hết sức chỉnh, ta có cảm giác dịch giả có thể bỏ ý mà không buông vần điệu, nên người đọc có cảm giác du dương, êm đềm mê đắm, ngay cả khi không hiểu hết từ ngữ chữ Hán và ý thơ. Dịch giả hết sức lưu tâm đến từng câu, từng từ… Câu thơ dịch mà tự nhiên, không bị gò ép, có hình thức nghệ thuật cao, đậm đặc chất thơ. Ta có cảm giác thơ dịch mà như thơ sáng tác, câu chữ phóng túng, cảm xúc dâng trào. Chính điều này đưa ta đến một nhận xét bản A hàm chứa tình cảm của người dịch nhiều hơn hẳn bản B. Bản A mang đậm sắc thái nữ tính, nỗi lòng người chinh phụ gần với người phụ nữ hơn, chỉ có thể là phụ nữ mới viết được như vậy. Điểm đặc biệt nữa, là có lẽ người dịch cũng có tâm trạng như người chinh phụ xa chồng, mà gửi tình cảm đó vào trong văn cảnh. Có thể bà Đoàn Thị Điểm dịch Chinh phụ ngâm trong thời gian ông Nguyễn Kiều, chồng bà, đi sứ sang Trung Quốc. Cái tâm trạng xa chồng của bà chẳng khác gì người chinh phụ, nhất là khi bà lấy ông Nguyễn Kiều chưa được bao lâu, thì ông đã phải nhận lệnh đi sứ sang Trung Quốc.
      Trong khi đó, bản B truyền tải được nhiều ý của nguyên bản, giống ý của nguyên bản hơn bản A, thậm chí giống từng chữ, từng lời, vì vậy bị gò bó, không được thanh thoát. Còn bản A dịch phóng túng hơn, không lệ thuộc quá vào nguyên bản, sáng tạo những từ mới khác với nguyên bản, và thậm chí có những từ ngữ còn hay hơn nguyên bản.
      Có một điều đặc biệt, mà các nhà nghiên cứu, khảo luận… chưa thấy đề cập tới. Đó là trong bài “Ngẫu thuật” Phan Huy Ích có viết: “Thiên chương tu hướng nhạch thanh tầm”, dịch nghĩa là: Vậy phải theo từng thiên chương và hiệp với âm nhạc mà diễn ra thì mới được. Như vậy, theo Phan Huy Ích khi dịch phải chia thành từng chương tiết. So sánh với bản B, ta thấy bản B đúng là có chia thành các chương tiết cẩn thận (13 chương và nhiều tiểu tiết).
      Câu thứ 5 trong bài “Ngẫu thuật” có câu: “Vận luật hạt cùng văn mạch túy”. Điều này chứng minh được một điều quan trọng, là bản B có thể là của Phan Huy Ích, dịch nghĩa là: nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh túy trong mạch văn. Có nghĩa là, ông Phan Huy Ích chê những người dịch trước quá nặng về âm luật, câu chữ chải chuốt, mà không dịch hết được ý của nguyên bản. Vì vậy trong khi dịch ông theo sát nguyên bản, không quá câu nệ vào vần điệu, chữ nghĩa. So sánh hai bản A và bản B, ta thấy bản B theo sát nguyên bản hơn bản A.
      Từ hai ví dụ nêu ra ở trên, ta có thể đi đến một ý kiến gợi ý, là bản B có thể là bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích.
     Để làm sáng tỏ thêm, sau đây chúng tôi xin dẫn ra một số câu ở hai bản A và bản B, để so sánh xem bản nào dịch sát, gần với nguyên bản hơn:
1.Sứ tinh thiên môn, thôi hiểu phát,
Hành nhân trọng pháp, khinh biệt ly.
Sứ trời sớm giục đường mây, (bản A)
Phép công là trọng, niềm tây sá nào?
Sứ tinh sớm giục lên đường (bản B)
Người đi sợ phép, xem thường biệt ly.
Bản B gần như là chuyển dịch từng chữ trong nguyên bản sang, ý văn thể hiện quan điểm, suy nghĩ của đàn ông. Còn bản A, dịch rất thoáng, không sử dụng lại các chữ như trong nguyên bản, có nội tâm và quan điểm của người dịch là phụ nữ.
       Các câu sau đây cũng có nội dung tương tự:
2.Lương nhân nhị thập Ngô môn hào,
Đầu bút nghiễn hề sự binh đao.
Chàng tuổi trẻ, vốn dòng hào kiệt, (bản A)
Xếp bút nghiên, theo việc đao cung.
Chàng hai mươi tuổi, cửa Ngô (bản B)
Gác bồ nghiên bút, giở đồ cung đao.
3.Dục bả liên thành hiến minh thánh,
Nguyện tương xích kiếm trảm thiên kiều.
Thành liền mong tiến bệ rồng, (bản A)
Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời.
Đem thành liền ngưỡng trao Minh thánh, (bản B)
Xin tấc gươm dẹp lĩnh Thiên kiêu.
      Tiếp theo, chúng tôi xin dẫn ra một số câu để so sánh chất nữ tính và chất nam tính của hai bản A và bản B:
1.Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,(bản A)
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Trời đất thuở gió bay, bụi nổi (bản B)
Khách hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.
Hai câu này, hai bản dịch có nội dung và câu chữ tương tự, chứng tỏ ông Phan Huy Ích trước khi dịch có đọc bản A, như lời ông nói trong bài thơ “Ngẫu thuật”: “Đã có nhiều người tìm cách diễn ra quốc âm”. Nhưng hai câu thơ ở hai bản có khác nhau một chữ quan trọng: Khách má hồng (bản A) và khách hồng nhan (bản B). Ông Nguyễn Thạch Giang đã phân tích rất rõ và cho rằng: Trong quan niệm của nhân dân ta “má hồng” và “hồng nhan”có chỗ khác nhau rất rõ. Hai tiếng này không bao giờ lẫn lộn được. “Hồng nhan” nghe như có cái gì khinh bạc, rẻ rúng ở bên trong. “Hồng nhan” bao giờ cũng đi đôi với “bạc mệnh”. Như vậy, rõ ràng là khi dịch chữ “má hồng” người dịch rất có ý thức về giới phụ nữ và rất từng trải, thể hiện mối thông cảm sâu sắc về thân phận người phụ nữ. Còn người dịch chữ “hồng nhan” (bản B), là quan niệm của người đàn ông, quen xem nhẹ đàn bà, bàng quan trước mọi tâm tư tủi nhục của họ trong xã hội cũ. Sự lý thú ở đây còn ở chỗ, ở bản C  mà GS. Hoàng Xuân Hãn cho là của Nguyễn Khản cũng dịch chữ “hồng nhan”:
Nẻo trời đất nổi cơn gió bụi,
Kẻ hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.
      Chúng ta đọc tiếp câu thơ sau đây:
2.Tư mệnh bạc, tích niên hoa,
Ty ty thiếu phụ cơ thành bà?
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa, (bản A)
Gái tơ mấy chốc sảy ra nạ dòng?
Tiếc tuổi hoa cùng than phận bạc (bản B)
Ả thuyền quyên mấy đạc nên già?
      Bản A, tác giả dịch phải là nữ giới mới nói được một cách chân thực nỗi lòng và sự thật tình cảnh người chinh phụ đợi chồng phải gánh chịu. Đặc biệt ta chú ý đến chữ “Ả”. Chữ “Ả” để chỉ người phụ nữ với ý coi thường, có vẻ khinh miệt. Rõ ràng tác giả dịch phải là nam giới, người từng làm quan, kẻ trên nhìn xuống kẻ dưới. Bà Đoàn Thị Điểm không thể tự khinh miệt giới mình.
3.Tương cố bất tương kiến
 Thanh thanh mạch thượng tang
 Mạch thượng tang, mạch thượng tang,
 Thiếp ý, quân tâm, thùy đoản tràng?
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, (bản A)
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?
Trông nhau mà chẳng thấy nhau, (bản B)
Xanh xanh những thấy bóng dâu trên đường.
Dâu mấy hàng, có hay chăng nhẽ,
Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài?
      Liệu có người phụ nữ nào nói với chồng quan: Lòng đấy đây, ai kẻ vắn, dài? Câu thơ này chắc chắn là do đàn ông viết, coi mình là người bề trên mới viết như vậy.
4.Cung tiễn hề tại yêu,
Thê noa hề biệt quyết.
Đường giong ruổi, lưng đeo cung tiễn
Buổi tiễn đưa, lòng bịn thê noa (bản A)
Lưng trẩy đi cung tên mang mẻ, (bản B)
Áo phân tay, xem nhẹ tình duyên.
      Câu thơ ở bản A có chất nữ tính, do phụ nữ viết. Câu thơ ở bản B có chất nam tính, chỉ có đàn ông mới viết “xem nhẹ tình duyên”, phụ nữ không nói như vậy.
5.Liên hiệp tinh kỳ hề xuất tái sầu,
 Huyên huyên tiêu cổ hề từ gia oán.
 Hữu oán hề phân huề,
 Hữu sầu hề khế khoát.
Bóng cờ, tiếng trống xa xa, (bản A)
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Ngọ cờ ra ải đeo phiền, (bản B)
Trống còi ong ỏng, dẹp bên, giã nhà.
Câu thơ bản A là lời oán trách, đầy tâm trạng của người trong giới nữ. Còn câu thơ bản B dửng dưng với sự việc mà mình đang mô tả, thể hiện tính đàn ông bàng quang với sự việc trước mắt, câu thơ thiếu cái tình người ở trong đó.
     Những ví dụ tiếp theo sau đây, đều chứng tỏ người dịch bản A là nữ giới, và người dịch bản B là nam giới:
6.Khách phong lưu đương chừng niên thiếu (bản A)
Sánh nhau cùng dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên,
Quan sơn để cách hàn huyên sao đành?
Tuổi chưa nhiều, đấy phong lưu khách, (bản B)
 Đây trẻ trung muôn dịch vừa quen.
 Bao kham đôi trẻ thiếu niên,
 Đều riêng ấm lạnh, dặm nghìn ai hay?
      Lễ giáo phong kiến đã ăn sâu vào máu thịt, dịch giả là nữ, và người vợ thời xưa, liệu có dám xưng với chồng quan là: “đấy phong lưu khách” và “đây trẻ trung muôn dịch vừa quen”, một cách “bình đẳng” và có vẻ “hơi hỗn” như vậy không?
7.Mẹ già phơ phất mái sương (bản A)
Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.
Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân.
Tóc dường sương, mẹ chàng tuổi tác, (bản B)
Mà con chàng trứng nước tuổi thơ.
Mẹ già ngoài cửa đứng chờ,
Con thơ ngồi chực sớm trưa bữa thường.
Nuôi mẹ chàng, thiếp khôn làm gái,
Dạy con chàng, thiếp phải làm cha.
      Bà Đoàn Thị Điểm được học hành, được giáo dục cẩn thận, lễ giáo phong kiến nghiêm khắc, bà không thể dịch “mẹ chàng”, “con chàng” được. Đọc mấy câu thơ bản A, ta có cảm giác như chính công việc của bà Đoàn Thị Điểm vẫn phải làm, khi cha và anh mất sớm, bà phải làm nhiều việc để nuôi mẹ và các cháu.
8.Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu (bản A)
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Ngoảnh trông dương liễu nơi nào, (bản B)
Ấn phong hầu, giận khát khao nỗi gì?
Nẻo trẩy đi, dặm nghìn cách trở,
Biết lòng chàng có tựa thiếp chăng?
      Ở bản A, người phụ nữ tỏ ra ân hận, khi đồng ý để chồng nhận tước phong ra trận. Đây là tâm lý rất phụ nữ, chỉ phụ nữ mới có thể dịch được như vậy.
      Còn rất nhiều câu thơ tương tự, ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một số ví dụ.
      Thơ là người. Trong thơ mang hình bóng tác giả. Ngay cả thơ dịch, cũng thể hiện phong cách, tâm hồn, vốn sống, sự từng trải, quan điểm (quan điểm sống, xử thế, nghệ thuật văn chương…). Và đặc biệt trong thơ (kể cả thơ dịch) thể hiện cái chất nữ tính và nam tính rất rõ.
      Đọc kỹ bản B, đúng như lời ông Phan Huy Ích đã nói trong bài “Ngẫu Thuật”, là ông đã cố gắng truyền tải hết ý của tác giả Đặng Trần Côn vào trong bản dịch Nôm của ông, và không thật coi trọng việc chuốt từ, tìm vần… Vì vậy khi đọc bản B, ta cảm thấy văn chương hơi bị gò ép, lời văn thiếu khoáng đạt, trau chuốt, nhiều khi dùng luôn câu chữ của tác giả Đặng Trần Côn. Đôi khi ông còn lấy cả ý thơ của bà Đoàn
Thị Điểm. Ví dụ câu thơ dịch sau đây của bà Đoàn Thị Điểm rất hay, rất chỉnh:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
Còn câu của ông Phan Huy Ích:
Rụng đùng đùng lá dương, sương bổ,
Cây ngô đồng mưa nọ chẻ tan.
Nguyên tác:
Sương phủ tàn hề dương liễu,
Vũ cứ tổn hề ngô đồng.
Bà Đoàn dùng từ “bổ mòn”“xẻ héo”, còn ông Ích dùng từ “bổ”“chẻ” (gần giống xẻ). Hai chữ “bổ mòn”“xẻ héo” không có trong nguyên tác của Đặng Trần Côn. Phải chăng, ông Phan Huy Ích đã học hai chữ này của bà Đoàn Thị điểm?! Và nếu đúng như vậy, thì bản A đích thị là của bà Đoàn Thị Điểm dịch.
      Từ những nhận xét và dẫn chứng nêu ra ở trên, nhìn nhận một cách tổng thể, trên cơ sở phân tích chất nữ tính trong bản A, chất nam tính trong bản B và quan điểm dịch thơ của hai tác giả Phan Huy Ích và Đoàn Thị Điểm, cũng như trình độ, tầm cỡ, bề dầy thơ ca, cuộc sống và gia đình… , chúng tôi cho rằng bản A mới là bản dịch của Đoàn Thị Điểm, còn bản B là bản dịch của Phan Huy Ích.
----------------
 Viết thêm:
      Trong cuốn “Chinh phụ ngâm bị khảo”, GS. Hoàng Xuân Hãn nghi bản C là của Nguyễn Khản. Ông Thế Anh, vào tháng 7 năm 2012, có đăng một bài nói rằng, ông có đọc được một cuốn sách Hán – Nôm chép tay ở Thư viên Quốc gia, ký hiệu R1674, có nhan đề là “Nam phong giải trào”. Ở phần cuối cuốn sách này có chép bản dịch Chinh phụ ngâm ghi rõ người dịch là Nguyễn Khản, nhưng không phải là bản C, mà là bản F (bản thứ 6), mà GS. Hoàng Xuân Hãn đã ghi người dịch là vô danh. Bản của TVQG có 192 câu, bản thứ 6 có 200 câu.
      Như vậy bản C không phải là của Nguyễn Khản thì là của ai?
      Bản dịch của Nguyễn Khản là một bản phỏng dịch, rút gọn lại rất nhiều so với nguyên bản. Bản chữ Hán của Đặng Trần Côn có 480 câu, bản dịch của Nguyễn Khản chỉ có 192 câu, viết theo thể lục bát, lời văn chải chuốt, có những đoạn bám sát nguyên bản.
      Ông Thế Anh đưa ra dẫn chứng một số câu trong bản dịch của Nguyễn Khản giống bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Và ông đưa ra nhận định: “Phải chăng bài dịch của Nguyễn Khản đã chịu ảnh hưởng của bài dịch Đoàn Thị Điểm, vì Đoàn Thị Điểm (1705) hơn Nguyễn Khản (1734) gần 30 tuổi, nên có nhiều khả năng bài dịch của Đoàn Thị Điểm ra đời trước”.